Phần chú giải sách Bên thắng cuộc:

Danh mc sách tham kho

1. Archimedes L. A. Patti, Why Vietnam, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2007

2. Ba mươi năm Công giáo Việt Nam dưới chế độ Cộng sản 1975 – 2005, Nguyệt san diễn đàn giáo dân và phong trào giáo dân Việt Nam hải ngoại cơ sở Đức quốc, 2005

3. Báo cáo thường niên Kinh tế Việt Nam 2001, Nền Kinh tế trước ngã ba đường, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội,2011

4. Ban Tuyên giáo Thành ủy – Cục Chính trị quân khu 7 Viện nghiên cứu xã hội thành phố Hồ Chí Minh, Sài Gòn Mậu Thân 1968, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2008

5. Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Kỷ yếu Thủ tướng Phan Văn Khải làm việc với Ban nghiên cứu và tổ kinh tế đối ngoại của Thủ tướng Chính phủ, Bản thảo ngày 13 tháng 2 năm 2004

6. Bản thảo Hồi ký Ngô Công Đức 1936 – 2007

7. Bộ Ngoại giao, Phạm Văn Đồng và Ngoại giao Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2006

8. Bùi Diễm, Gọng kìm lịch sử, cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, 2000

9. Carl Bernstein, Hillary Rodham Clinton người đàn bà quyền lực, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2008

10. Chính Đạo Việt Nam niên biểu 1939 – 1975, Văn hóa xuất bản và phát hành, 2000

11. Chương trình Khoa học Công nghệ cấp nhà nước KX.01, “Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về con đường XHCN qua cuộc đổi mới”, Bản thảo năm 1994

12. Chuyện kể về chị Ba Thi nữ anh hùng lao động, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long, 1992

13. Chuyện thời bao cấp tập 1, Nhà xuất bản Thông tấn, 2011

14. Christopher E. Goscha, Courting Diplomatic Disaster? The Difficult Intergration of Vietnam into the Internationalist Communist Movement (1945-1950), “Vietnam Studies” Conference April 6, 2006, UC Berkeley.

15. Duyên Anh, Nhà tù hồi ký, Nhà xuất bản Xuân Thu, 1987

16. Dương Đức Dũng, Nhà doanh nghiệp cần biết Những gương mặt tỷ phú Sài Gòn trước năm 1975, Nhà xuất bản thành

phố Hồ Chí Minh, 1992

17. Đại tướng Phạm Văn Trà, Đời chiến sĩ hồi ký, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 2009

18. Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1976

19. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Hành Dinh trong Mùa Xuân Toàn Thắng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2000

20. Đại Việt Sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, 2003

21. Đào Xuân Sâm, Viết theo dòng đổi mới tư duy kinh tế, Nhà xuất bản Thanh niên, 2000

22. David G. Marr, Vietnam 1945, The Regents of the University of California, 1995

23. Đặng Phong, “Phá rào” trong kinh tế vào đêm trước đổi mới, Nhà xuất bản Tri thức, 2009 24. Đây là Đài Phát thanh Giải phóng, Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1997

25. Egon Krenz, Mùa thu Đức 1989, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2010

26. Ezra F. Vogel, Deng Xiaoping and the Transformation of China, the Belknap Press of Harvard University Press, 2011.

27. Giáo giới trong đấu tranh đô thị qua hai thời kỳ Nam Bộ kháng chiến (1945 – 1975), Bản thảo tháng 6 năm 2004

28. GS. Trần Nhâm, Trường Chinh – Một tư suy sáng tạo, một tài năng kiệt xuất, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2009

29. Hà Văn Thư – Trần Hồng Đức, Tóm tắt Niên biểu Lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, 1996

30. Henry Kissingger, Ending the Vietnam War, Simon & Schuster, 2003

31. Henry Kissinger, Những năm bão táp (Cuộc chạy đua vào Nhà Trắng), Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2003

32. Hoàng Dũng, Chiến tranh Đông Dương III, Văn Nghệ xuất bản, 2000

33. Hoàng thân Norodom Shihanouk cùng Bernard Kriser, Hồi ký Shihanouk, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 1999

34. Hoàng Minh Thắng, Nơi ấy tôi đã sống, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2003

35. Hoàng Ngọc Thành và Trần Thị Nhân Đức, Tài liệu Sử: Những ngày cuối cùng của Tổng thống Ngô Đình Diệm

36. Hoàng Tùng, Những kỷ niệm về Bác Hồ

37. Học viện Chính trị Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đồng chí Trường Chinh – Nhà lãnh đạo kiệt xuất của Cách mạng Việt

Nam, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, 2007

38. Hồ Ngọc Nhuận, Bản thảo Đời hay Chuyện về những người tù của tôi

39. Hồ Ngọc Nhuận, Bản thảo Tình bạn hay Những là thư tâm tình về tình hình chính trị tại miền Nam Việt Nam trước 1975

40. Hồi ký của Nguyễn Kỳ Nam 1945 – 1954, Xuân Giáp Thìn 1964

41. Hồi ký Trần Văn Giàu 1940 – 1945

42. Hồi ức Mai Chí Thọ, tập 2 Theo bước chân lịch sử, Nhà xuất bản Trẻ, 2001

43. Hội nghị Genève năm 1954 về Đông Dương

44. Hội thảo Khoa học Lịch sử phát triển Kinh vĩnh tế, Sở Khoa học Công nghệ môi trường An Giang, 1999

45. Huỳnh Bá Thành, Vụ án Hồ Con Rùa, Phụ bản báo Tuổi trẻ, 1983

46. Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nhà xuất bản Sự Thật, 1985

47. Lê Hoài Nguyên, Vụ Nhân văn – giai phẩm từ góc nhìn Một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc Cách mạng văn học không thành

48. Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945 – 1995, Tiên Rồng xuất bản, 2004

49. Lịch sử Phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên Sài Gòn – Gia Định và các thành thị Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1928 – 1975), Bản thảo tháng 9 năm 2004

50. Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh, Phong trào đấu tranh của công nhân Nam Bộ 1945 – 1975, Bản thảo tháng 6 năm 2004

51. Lưu Văn Lợi – Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2002

52. Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, Thông tấn xã Việt Nam, 2008

53. My life Bill Clinton, William Jefferson Clinton, 2004

54. Ngã ba Đồng Lộc – Ngã ba anh hùng, Bản thảo năm 1971

55. Nghiêm Xuân Hồng, Cách mạng và hành động (1789 – 1917 – 1933 – 1949), Quan điểm xuất bản

56. Ngô Điền, Campuchia nhìn lại và suy nghĩ, Bản thảo ngày 30 tháng 7 năm 1992

57. Ngô Thảo, Dĩ vãng phía trước, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2011 58. Nhớ về anh Lê Đức Thọ, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2000

59. Nhà Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2003

60. Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận Văn hóa – Tư tưởng, Nhà xuất bản Văn hóa, 1980

61. Những sự kiện lịch sử Đảng Bộ thành phố Hồ Chí Minh (1975 – 1995) tập 1 62. Những sự kiện lịch sử Đảng Bộ thành phố Hồ Chí Minh (1975 – 1995) tập 2 63. Những sự kiện lịch sử Đảng Bộ thành phố Hồ Chí Minh (1975 – 1995) tập 2

64. Nguyễn Đình Đầu, Tìm hiểu Thềm lục địa – biển Đông hải đảo Việt Nam, Ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh, 2009

65. Nguyễn Duy Oanh, Chân dung Phan Thanh Giản, Tủ sách Sử học Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên, 1974

66. Nguyễn Khánh, Phong cách Võ Văn Kiệt, Bản thảo ngày 20 tháng 10 năm 2009

67. Nguyễn Thế Anh, Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, Lửa thiêng xuất bản, 1970

68. Nguyễn Thị Ngọc Hải, Chuyện đời Đại sứ, Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ, 2012

69. Nguyễn Thị Ngọc Hải, Trở lại xứ Ka Đô, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2011

70. Nguyễn Nhật Lâm, Trở lại, Nhà xuất bản Văn học, 2012

71. Nguyễn Văn Trung, Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nam Sơn, 1963

72. Nguyễn Văn Linh, Đổi mới để tiến lên, Nhà xuất bản Sự Thật, 1991

73. Nguyễn Văn Linh, Thành phố Hồ Chí Minh 10 năm, Nhà xuất bản Sự thật, 1985

74. Nguyễn Văn Linh, Hành trình cùng lịch sử, Nhà xuất bản Trẻ, 1999

75. Nguyễn Văn Trấn, Viết cho mẹ và Quốc hội

76. Nguyễn Tiến Hưng, Tâm tư Tổng thống Thiêu, Cơ sở xuất bản Hứa Chấn Minh, 2010

77. Nguyễn Xuân Oánh, Đổi mới vài nét lớn của một chính sách kinh tế Việt Nam, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 2001

78. Nguyễn Văn Xương, Lược dịch và chú giải Sắc lệnh điền thổ 21 tháng 7 năm 1925, in lần thứ nhì, 1971

79. Peter Braestrup, Big Story, Presidio, 1977

80. PGS Đào Công Tiến, Nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Giáo dục và đào tạo – mấy cảm nhận

và đề xuất, Bản thảo tháng 6 năm 2009

81. PGS Đào Công Tiến, Với các Dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng XI – Mấy trao đổi, đóng góp, Bản thảo năm 2005

82. Phạm Khắc Hòe, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2007

83. Phạm Sơn Khai, Hồi ký

84. Phan Lạc Phúc, Bè bạn gần xa, Nhà xuất bản Văn nghệ, 2000

85. Philip Short, Polpot, John Murray, 2004

86. Phong trào đấu tranh của phụ nữ Sài gòn – Gia Định trong Nam Bộ kháng chiến (1945 -1975), Bản thảo tháng 5 năm 2004

87. Quốc triều Hình luật, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1995

88. Stanley Karnow, Vietnam A History the first complete account of Vietnam at War, WGBH Educational Foundation and

Stanley Karnow, 1983

89. Sophie Quinn-Judge, Ho Chi Minh: The Missing Years 1919-1941, University of California Press, 2002.

90. Tạ Chí Đại Trường, Sử Việt đọc vài quyển, Nhà xuất bản Văn Mới, 2004

91. Tạ Chí Đại Trường, Người lính thuộc địa Nam Kỳ (1861 – 1945), Nhà xuất bản Tri thức, 2011

92. Tạ Chí Đại Trường, Một khoảnh Việt Nam Cộng hòa nối dài

93. TGM F. X Nguyễn Văn Thuận, Chứng nhân hy vọng, Công đoàn Đức Mẹ La Vang ấn hành, 2000

94. Thành ủy – Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Viện lịch sử Quân sự Việt Nam, Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu

Thân 1968, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1998

95. Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh Ban Tư tưởng – Văn hóa Thành ủy, Biên Niên sự kiện (1986 – 1995), Bản thảo năm

2000

96. Thụy Khuê, Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trọng Hiệp, Nhà xuất bản Văn Nghệ, 2002

97. Thượng tướng Trần Văn Trà, Những chặng đường của “B2 – Thành đồng” tập V Kết thúc chiến tranh 30 năm, Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 1982

98. Trần Công Tấn, Nguyễn Chí Thanh sáng trong như ngọc một con người, Nhà xuất bản Văn học, 2009

99. Trần Quang Cơ, Hồi ức và suy nghĩ, Bản thảo năm 2003

100.Trần Quốc Hương, Những năm tháng làm việc bên anh Trường Chinh, Bản thảo tháng 5 năm 2002

101.Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn (trích)

102.Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử lược, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2002

103.Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nhà xuất bản Vĩnh Sơn, 1969

104.Tuyển tập Đào Duy Tùng tập 1, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2008 105.Tuyển tập Đào Duy Tùng tập 2, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2008

106.Tướng Nguyễn Văn Vịnh – Như anh còn sống, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2003. 107.Trần Huy Chương, Campuchia Hậu UNTAC, Hồi ký – bản thảo 2002.

108.Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Đề án Quy hoạch, phát triển hạ tầng giao thông đô thị, khắc phục tình trang ùn

tắc giao thông, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Bản

thảo tháng 11 năm 2007

109.Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Viện kinh tế, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học “Kinh tế vỉa hè” tại thành phố Hồ Chí Minh: Hiện trạng và các giải pháp, Bản thảo tháng 1 năm 2005

110.Văn phòng Quốc hội, Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2006

111.Văn kiện Đảng toàn tập 1 (1924 – 1930), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1998

112.Văn kiện Đảng toàn tập tập 36 (1975), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2004

113.Văn phòng Chính phủ, Hội thảo Khoa học Tuyển tập các báo cáo toàn văn, Hà Nội tháng 9 năm 2000

114.Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, Bản thảo tháng 4 năm 2005

115.Viện nghiên cứu Xã hội thành phố Hồ Chí Minh, Đô thị hóa ở Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh từ góc nhìn Lịch sử – Văn

hóa, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2008

116.Viện nghiên cứu Xã hội thành phố Hồ Chí Minh, Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh Những vấn đề nghiên cứu, Nhà

xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2009

117.Việt Nam cộng đồng người Việt tị nạn trên thế giới 1975 – 2004, Nhóm nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận và hiện đại, 2004

118.Vĩnh Sính, Nhật Bản cận đại, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh Khoa Sử trường Đại học Sư Phạm, 1991

119.Võ Nhơn Trí, Việt Nam cần đổi mới thật sự, Đông Á xuất bản, 2003

120.Võ Văn Kiệt, Quyết thắng trên mặt trận Văn hóa và Tư tưởng, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 1981

121.Vũ Đình Hòe, Hồi ký Thanh Nghị tập 1, Nhà xuất bản Văn học, 1997

122.Vũ Đình Hòe, Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trẻ, 2008

123.Vũ Mão, Ngọn cờ tiên phong, Bản thảo năm 2005

124.Vũ Quốc Thông, Pháp Chế Sử Việt Nam, Tủ sách Đại học Sài Gòn, 1971

125.Zhao Ziyang, Prisoner of the State, Simon & Schuster, 2009

126.Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847 – 1885, Nhà xuất bản Tri thức, 2011

1 Tiểu thuyết cách mạngcủa TrungQuốc. 2 Tiểu thuyết cách mạngcủa Liên Xô. 3 Đạo diễn điện ảnh.

4 Tổ chức cho người Hoa nộp vàngđể được vượt biên bán chính thức (1978-1979). 5 Cải tạo nhữngngười giàu lên bất thường(1983). 6 Ngày 14-4-1975.

7 Trước năm 1973, Daisy Cutler và CBU vẫn được dùngđể dọn bãi cho trực thăng. 8 Trần Văn Trà, 1982, trang254. 9 Trần Văn Trà, 1982, trang255. 10 Sđd, trang258. 11 Sđd. Trang261.

12 Kissinger, 2003, trang536. 13 Kissinger, 2003, trang543.

14 Văn Kiện Đảng, tập 36-1975, 2004, trang167. 15 Trần Văn Trà, 1982, trang281-282. 16 Larry Berman, 2001.

17 Năm 1964 khi bị “chỉnh lý” bởi Tướng Nguyễn Khánh, “Quốc trưởng” Nguyễn Khánh phong cho ông hàm đại tướng, nhưng ông Minh và những người của ông không thừa nhận nên về sau có người gọi ông là đại tướngcó người vẫn gọi ônglà trungtướng.

18 Sau khi ôngDươngVăn Minh rời Việt Nam, Mười Ty đã có nhữngbáo cáo với tư cách là Đại tá DươngThanh Nhựt, nói rằnganh mình đã biến chuyển rất nhiều bởi “binh vận”. 19 Về sau, ôngNguyễn Văn Thiệu sangMỹ, ôngsốnglưu vonglặnglẽ suốt phần đời còn lại cho đến ngày 29-9-2001, mất tại Boston, Mỹ.

20 Trong cuốn Kết Thúc Chiến Tranh 30 Năm, Tướng Trần Văn Trà đánh giá: “Còn Minh, có lẽ do bản chất có phần thật thà, tin vào phù phép của tả phò Martin và hữu trợ Mérillon, nên đã bị chúng gạt

ra rìa từ lâu mà đến giờ chót còn cố vươn vai gánh chịu cái đầu hàngvô điều kiện”(trang283).

21 Là một nhà nghiên cứu lịch sử có nhiều côngtrình khảo cứu hết sức giá trị, ôngNguyễn Đình Đầu cho đến tận cuối đời vẫn giữ được tờ Sự Vụ lệnh do cụ Hồ Chí Minh ký, cử ôngvào Nam mua gạo cứu đói năm 1945. Về sau, ôngtheo nhữngngười Cônggiáo di cư vào Nam. Hành độnggợi ý và nhận lãnh vai trò “đi sứ” vào trại Davis của ôngcó lẽ nhờ sự mẫn cảm thời cuộc hơn là được giao nhiệm vụ. Về sau khi có tờ báo nói ônglà tình báo viên của miền Bắc, ôngNguyễn Đình Đầu nói ôngcảm thấy như là bị xúc phạm.

22 Tuyên bố ngày 26-4 gồm hai nội dung chính: “Mỹ phải thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Paris (ngừng bắn), tôn trọng quyền dân tộc căn bản và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam; xóa bỏ chính quyền Sài Gòn, côngcụ của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, xóa bỏ bộ máy chiến tranh và bộ máy kìm kẹp, đàn áp nhân dân miền Nam Việt Nam”.

23 Ủy viên TrungươngĐảngCộngsản Việt Nam khóa IX, X, Thứ trưởngBộ Giáo dục. 24 Sau 1975 là phó giám đốc Sở Thươngmại Thành phố Hồ Chí Minh. 25 Văn Kiện Đảng, tập 36-1975, 2004, trang176.

26 Xem Phụ lục 1: Sự thật lịch sử về tăng390 và tăng384.

27 Tiến sỹ Huỳnh Văn Tòng, sinh viên Nguyễn Hữu Thái và nhà báo CungVăn đến Dinh Độc Lập sau khi nghe ôngDươngVăn Minh tuyên bố ngừngbắn trên đài phát thanh. Họ là nhữngngười hoạt động bí mật hoặc hoạt độngtrongcác phongtrào do phía Cách Mạnglập ra trước năm 1975.

28 Theo Đại tá Bùi Văn Tùng: “Những ngày đầu đài báo của mình không nói rõ ai là người cắm cờ, nên đã xảy ra tranh chấp giữa Bùi Quang Thận và đại úy Phạm Xuân Thệ. Trung tá Lữ đoàn trưởng 203 Nguyễn Tất Tài, lúc này đã trở thành Phó Bảo TàngQuân đội, hỏi anh Thệ: ‘Vậy anh có giữ lá cờ Ba que không?’. Anh Thệ đưa ra một lá, anh Thận đưa ra một lá, cả hai cùngrách diềm. ÔngTài, trongngày 30- 4 đã cẩn thận leo lên nóc Dinh, gỡ diềm ‘cờ Ba Que’ còn vướng lại rồi lặng lẽ cất đi. Ông Tài cho trải cả hai lá cờ ra, ráp diềm vào mới xác nhận được lá cờ anh Thận giữ là lá cờ cuối cùng được Chính quyền Sài Gòn treo trên nóc Dinh Độc Lập”.

29 Tạp chí Xưa & Nay, số 258, tháng4-2006, và số 264 tháng7-2006

30 Sau chiến tranh là côngnhân PhòngThị chính, Thị xã Thanh Hóa. 31 Xưa & Nay, số 258 và 264, 2006.

32 Giữa năm 1985, ôngPhạm Xuân Thệ, lúc này đã đeo quân hàm thiếu tướnglên tiếngtrên báo Quân đội Nhân dân nhận rằngchính ônglà người bắt sốngnội các DươngVăn Minh và tự tay thảo lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh đọc. Ngày 19-10-2005, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Quân sự đã tổ chức “Tọa đàm khoa học xung quanh sự kiện đánh chiếm Dinh Độc lập ngày 30-4-1975″ nhưng không mời các nhân chứng có mặt trong Dinh và Đài phát thanh tại thời điểm trưa 30-4-1975; không mời các cán bộ, chiến sỹ của Lữ 203 và đơn vị đặc công 116. Để rồi, ngày 17-1-2006, Viện Lịch sử Quân sự đã ra kết luận cho rằng”Tại Đài phát thanh đồngchí Phạm Xuân Thệ cùngcác cán bộ, chiến sỹ Trungđoàn 66 tổ chức soạn thảo lời Tuyên bố đầu hàngcho DươngVăn Minh. Văn bản đangđược soạn thảo thì trung tá Bùi Văn Tùng, Chính ủy Lữ đoàn tăng 203 xuất hiện, Từ đó, bộ phận cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 dưới sự chỉ đạo của đồng chí Bùi Văn Tùng tiếp tục soạn thảo và hoàn chỉnh lời Tuyên bố đầu hàng”. Ngay sau khi công bố, Kết luận của Viện Lịch sử Quân sử đã bị ông Bùi Văn Tùng, các các sỹ quan, chiến sỹ trên xe tăng 390 và kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái, người có mặt tại Đài phát thanh trưa 30-4-1975, phản đối (nhiều ý kiến đăngtrên hai số báo Xưa & Nay, 258- tháng4-2006, và 264 tháng7-2006).

33 Người ghi âm những tuyên bố lịch sử này là ông Nguyễn Nhã. Lúc bấy bấy giờ, ông Nguyễn Nhã là giáo sư sử địa Trường Trung học Kiểu mẫu Thủ Đức, thuộc Đại học Sư phạm Sài Gòn, chủ nhiệm kiêm chủ bút Tập san Sử Địa, Đại học Sư phạm.

34 Trả lời phỏngvấn của tác giả năm 1996, có tham khảo hồi ký “Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm” của ThượngtướngTrần Văn Trà. 35 Xem Phụ lục 2: TướngBigMinh sau 1975.

36 Theo Chuẩn tướngNguyễn Hữu Hạnh.

37 Trungđoàn trưởngTrungđoàn 1, đơn vị đánh vào Cần Thơ, Vĩnh Longtrongngày 30-4-1975. 38 Phạm Văn Trà, 2009, trang237-238.

39 Theo Văn Tiến Dũng: “Chán nản và tuyệt vọng, Trần Văn Hai tự sát vào lúc 3 giờ sángngày 1-5-1975”, tuy nhiên nhữngngười thân cận TướngTrần Văn Hai nói ôngtự sát vào chiều 30-4. 40 Văn Tiến Dũng, 1976, 305.

41 Theo ông Huỳnh Bửu Sơn, ngay trong ngày 1-5-1975, Cách mạng đã biết trong kho có số vàng này, nhưng phải khi ông đi học tập về thì mới chính thức bàn giao. Ông Huỳnh Bửu Sơn là một trong hai

người nắm giữ chìa khóa kho vàng và trực tiếp giao vàng cho hai người, một người bộ đội tên là Duyệt, một người về sau làm giám đốc ngân hàng Cần Thơ. Kho dự trữ chứa 15,7 tấn vàng, gồm: vàng thoi FRD của Mỹ, vàng thoi Montagu của Nam Phi và vàng thoi Kim Thành, có nguồn gốc là vàng lậu do hải quan bắt tịch thu về đưa cho hãng Kim Thành đúc lại. Ngoài ra còn có các đồng tiền vàng của Mỹ, Double Eagle, mệnh giá 20 USD nhưngđược làm từ một lượngvàngtrị giá 420 USD; đồngPesos của Mexico; đồngvàngNapoleon¼ Ngoài số vànghiện vật, 15,7 tấn, Ngân hàngQuốc gia còn bàn giao 5,5 tấn vàngkhác đangđược giữ tại Thụy Sỹ (được lấy ra sau khi người Mỹ bỏ cấm vận).

42 Tên gọi thân mật của Lê Duẩn. 43 Tố Hữu.

44 Sài Gòn Giải Phóng, 2-7-1975.

45 Sài Gòn Giải Phóng, 6-5-1975.

46 Sài Gòn Giải Phóngsố ra ngày 8-11-1975. 47 Sài Gòn Giải Phóng, 8-11-1975.

48 Gần như hầu hết nhân viên tình báo và sỹ quan cảnh sát đều bị kẹt lại. Theo ông Phan Ngọc Vượng, cán bộ làm việc trong Ban R, Nha Nghiên cứu, Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo: Ngày 21-4-1975,

Phủ nhận được điện từ phía Mỹ cho biết, theo kế hoạch di tản của Kissinger, ngày 24, 25-4-1975, tất cả cán bộ tình báo và các sỹ quan cảnh sát sẽ được đưa đi. Bức điện được chuyển cho Chuẩn tướngNguyễn Khắc Bình, tổnggiám đốc Cảnh sát Quốc gia kiêm đặc ủy trưởngĐặc ủy TrungươngTình báo. Ngày 22-4-1975, khi họp để bàn về vấn đề di tản, TướngBình tuyên bố: “Tình báo và cảnh sát phải ở lại đến phút cuối cùng chứ không thể di tản trong tình hình này”. Mọi người đều cho rằng đó là một quyết định cần thiết. Nhưng, ngày 23-4, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu rời Việt Nam. Ngày 24-4-1975, Nguyễn Khắc Bình lặnglẽ di tản khôngmột lời bàn giao cho thuộc cấp. Tổngthốngtạm quyền Trần Văn Hươngbổ nghiệm ôngNguyễn Phát Lộc (đi cải tạo cho tới khi chết ở trại giam Nam Hà), phụ tá kế hoạch của ôngBình, làm đặc ủy trưởng. Ngày 26-4, ông Lộc cử ông giám đốc Trung tâm thẩm vấn quốc gia qua tòa Đại sứ Mỹ liên hệ việc thực hiện kế hoạch di tản. Ông giám đốc thay vì chuẩn bị kế hoạch cho các đồng sự đã tìm đườngdi tản với gia đình. Ngày 28-4, ôngLộc cử tiếp giám đốc nha tình báo quốc ngoại đi, ônggiám đốc nha cũngâm thầm di tản nốt. Chiều ngày 28-4-1975, tòa Đại sứ Mỹ yêu cầu tất cả nhân viên Phủ Đặc ủy tập trungở số 3 Bạch Đằngchờ. Đến chiều hôm sau, lại có yêu cầu chuyển sangsố 2 Nguyễn Hậu. Tại đây, mọi người được yêu cầu phải nộp lại tất cả súngống. Nhưng, tới 1 giờ sáng ngày 30-4-1975 thì tất cả liên lạc giữa Tòa Đại sứ và Phủ Đặc ủy đều bị cắt. Gần sáng, chuyến máy bay cuối cùng chở Đại sứ Mỹ rời khỏi Sài Gòn. Hầu như tất cả cán bộ của Phủ Đặc ủy tình báo, lực lượng được ưu tiên di tản khỏi Sài Gòn, đều bị kẹt lại.

49 Sài Gòn Giải Phóng, 14-6-1975. 50 Sài Gòn Giải Phóng, 14-6-1975.

51 Hiểu biết của chính quyền mới trước cách gọi các chức danh trongchế độ cũ đã gây ra khôngít tình trạngtrớ trêu. Sự suy diễn của nhữngngười chiến thắngtrước nhữngngôn từ rổn rảngmà Chính quyền

Sài Gòn thích dùng đã làm điêu đứng biết bao số phận. Chữ “chiêu hồi” bên cạnh chức năng “dân vận, thông tin” của cơ quan Thông tin Chiêu hồi đã khiến cho các quan chức thuộc loại “văn nghệ” này phải cải tạo lâu hơn những”ngụy quyền” đồngcấp. Số phận của nhiều “sỹ quan biệt phái” cũngkhá là bi đát. Có người trongsố họ do có tiền bạc hoặc ô dù, “chạy” được cái “biệt phái” từ một đơn vị tác chiến sangvăn phòng. Có khoảng15.000 người là giáo chức, viên chức y tế, sau Mậu Thân, sau “Mùa Hè Đỏ lửa 72”, bị độngviên vào TrườngSỹ quan Thủ Đức, huấn luyện một thời gian, nhận “lon” như một thứ quân dự bị rồi về dạy học hay chữa bệnh. Khi bị tập trungcải tạo, tên gọi “sỹ quan biệt phái” đã làm cho họ bị nghi ngờ: Nếu khôngphải “CIA” thì chắc cũngthuộc thành phần ghê gớm lắm. Đặc biệt, các sỹ quan ở cơ quan “Chiến tranh Chính trị” vốn chỉ đi cùng các em văn công xuống đơn vị đàn hát, đã bị tưởng là các “chính trị viên”, nên nhiều người đã phải chịu hơn mười năm tù tội. Những người tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành chánh cũngsuýt bị “mục xương” vì, theo TổngThư ký Hội Trí thức Yêu nước Huỳnh Kim Báu, mới đầu Cách mạngtưởngtrườngnày cũngcó vai trò như “TrườngĐảng”.

52 Tạ Chí Đại Trường, 1993, trang53-54. 53 Sđd, trang54. 54 Sđd, trang55.

55 Sài Gòn Giải Phóng, 19-8-1975. 56 Sài Gòn Giải Phóng, 15-5-1975.

57 Bức thư nói là của ôngTrần Văn Tức viết: “Em mến… Anh lúc này mạnh khỏe lắm, ăn uốngnhiều hơn ở nhà, mỗi ngày ba bữa ăn, học tập cải tạo vui vẻ lắm, nhất là học tập về lao độngđể quen với nếp sống đồng quê như làm rẫy cuốc giống, trồng tỉa chung với chúng bạn nên cảm thấy vui vẻ. Chiều ra xem mấy luống rau cải xanh um tươi tốt cũng như lúc ở nhà anh làm ruộng làm rẫy chiều chiều dẫn em và các con đi xem vậy. Sau ngày mãn khóa về chúngta sẽ tìm lại nếp sốngruộngrẫy ở quê nhà… Ngày 29-7-75, Trần Văn Tức”.

58 Giải Phóng, 7-8-1975.

59 “Hỏi: Trên đườngđi thăm anh, chị nghĩ thế nào về anh ấy? Đáp: Hồi trước anh ấy là “cây nhậu”, nên về nhà thường bỏ cơm, cho nên da vàng và thân hình ốm mảnh khảnh. Tôi nghĩ khi phải học tập lao

động, sợ anh chịu khôngnổi. Hình ảnh lởn vởn trongđầu tôi là một anh L ốm o, gầy mòn thân hình tiều tụy, đuổi ruồi khôngbay. Hỏi: Khi đã gặp anh L chị thấy anh ấy như thế nào? Đáp:Anh L bây giờ da sạm nắng, thân hình rắn chắc hơn trước. Tôi thấy anh ấy mập gấp đôi trước kia cho nên nghi anh ấy bị bịnh phù thủng, tôi có thử bấm vào cánh tay, bắp đùi coi thử có thiệt khôngnhưngthấy các bắp thịt rất cứngdo đó tôi mừngvô cùng. Hỏi: Khi đến trại chị gặp anh L đanglàm gì? Đáp: Khi đến trại tôi gặp anh C tiểu đoàn trưởngđangở trần chơi vô lây (bóngchuyền). Tôi đã òa lên khóc vì vừa mừngvừa tủi, đến 11 giờ anh L đi làm về gặp tôi. Anh L đã bỏ ăn trưa để được nói chuyện, hỏi thăm tin tức bà con ở Sài Gòn. Hỏi: Chị thấy anh em ăn uống như thế nào? Đáp: Tôi không dự buổi ăn tập thể, nhưng anh có đem cho tôi bắp nấu, cơm thịt chả bôngcho tôi. Tôi hỏi có hụt phần ăn của anh không?Anh L cho biết, ở đây ăn uốngrất đầy đủ, ở đây gần suối nên anh em câu được cả cá lóc nữa. Trưa tôi ở đó thì anh em câu được một con và quyết định nấu cháo vào buổi chiều. Hỏi: Chị thấy anh em cán bộ tập huấn như thế nào? Đáp: Các anh ấy rất tốt. tôi có mang theo mấy số Tin Sáng, các anh ấy và anh em học tập cùng chia nhau đọc. Mấy anh cán bộ cứ hỏi thăm tôi về Sài Gòn hoài. Trên nguyên tắc, mỗi người thăm chồngđược hai giờ, nhưngthôngcảm tôi từ Sài Gòn ra, hơn nữa vợ chồnglâu ngày mới gặp nên các anh cán bộ đã tế nhị sắp xếp cho vợ chồngtôi được gặp riêngvà nhiều giờ hơn.

60 Trả lời phỏngvấn tác giả. 61 Trả lời phỏngvấn tác giả. 62 Ký giả Lô Răng.

63 Nhà văn, nổi tiếngvới tác phẩm Mùa Hè Đỏ Lửa, viết về Chiến dịch QuảngTrị 1972.

64 Sau Hiệp định Paris năm 1973, Đại úy Phan Nhật Nam là trưởng Ban Hoạt vụ của Ban Trao trả Tù binh thuộc phía Việt Nam Cộng hòa trong Ủy ban liên hiệp bốn bên thi hành Hiệp định Paris. Ông Nam kể: “Hàng tuần, vào ngày thứ Sáu, tôi lại bay ra Hà Nội để nhận tù binh. Thứ Sáu, ngày 4-3-1973, khi tôi ra Hà Nội, Thiếu tá Bùi Tín, lúc ấy là sỹ quan báo chí của Tướng Lê Quang Hòa, gặp và vận động tôi ở lại miền Bắc. Tôi nhận lời. ÔngPhạm Văn Đồngviết tư văn gửi xuốngHải Phòngmời ba tôi lên. Bùi Tín cho tổ chức một cuộc họp báo tại sân bay Gia Lâm. Khi mọi người đã an tọa, ước có khoảnghơn hai mươi nhà báo trongđó có các nhà báo ĐôngÂu và có cả một nhà báo Pháp. Tôi mở cặp, lấy cuốn Mùa Hè Đỏ Lửa và một tập nhạc, rồi nói: Tôi sinh ra ở Huế, nơi năm Mậu Thân, các ông cộng sản đã thảm sát hơn 3.000 người. Còn đây là cuốn Mùa Hè Đỏ Lửa, viết về Quảng Trị, nơi, vào ngày 29-4-1972, tôi đã chụp những hình ảnh chết chóc trên Đại lộ Kinh hoàng. Đây là mười hai nhạc sỹ du ca, không có ai trong họ ca ngợi chiến tranh. Chúngtôi khônggây chiến tranh¼ Tới đó, ôngBùi Tín bảo tôi: Thôi Nam, về”. Về Sài Gòn, theo Đại úy Phan Nhật Nam: “Tôi viết cuốn Tù binh và Hòa bình, xuất bản năm 1974 bởi nhà xuất bản Hiện Đại, tại trang 174, tôi cho rằng: Rồi đây, chúng ta sẽ là tù binh trong một nền hòa bình ngụy danh. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam sẽ lần lượt đóng hết vai trò đoản kỳ của nó. Và trận cuối cùngvẫn là giữa chúngta với nhữngsư đoàn chính quy chủ lực Bắc Việt qua tấm đệm ba mầu, lá cờ Mặt trận – thứ phế phẩm sẽ nhanh chóngbị vất bỏ khi trận chiến tàn cuộc”.

65 ÔngPhan Nhật Nam phủ nhận các nguồn tin nói rằngôngcự tuyệt gặp người cha cộngsản. 66 Ủy viên Trungươngkhóa IV, VI.

67 Biên bản giao ban TrungươngCục ngày 3-9-1975.

68 Một nhà báo quê Hải Phòng, chủ nhiệm báo Sống tại Sài Gòn trong thập niên 1960, sinh năm 1917. Ngày 30-4-1975 ông bị chết bởi một trái đạn B40 ở cửa biển Cần Giờ khi đang rời Việt Nam trên con tàu Việt Nam ThươngTín.

69 Biên bản giao ban TrungươngCục ngày 3-9-1975.

70 Lực lượng Dân quân Phục quốc do Thượng sỹ Nguyễn Việt Hưng thành lập vào tháng 8-1975. Một số linh mục di cư đã tham gia như linh mục Nguyễn Hữu Nghị, nhà thờAn Lạc, linh mục Nguyễn QuangMinh, nhà thờ Vinh Sơn. Lực lượngnày còn thu nhận một số sỹ quan trốn học tập cải tạo khác như trungtá Phạm Văn Hậu, trungtá Trần Kim Định và một người mà Cách mạnggọi là CIA, ôngNguyễn Khác Chính. ÔngNguyễn Việt Hưngtự phongcho mình quân hàm “thiếu tướng”, giữ chức “Tư lệnh quân đoàn biệt chính và biệt khu thủ đô”.

71 Theo DươngĐức Dũng, bài hát do HùngCườngsángtác.

72 Hồ Con Rùa là một trongnhữngvị trí được xây dựngsớm nhất ở Sài Gòn. Vào năm 1878, người Pháp xây ở đây một tháp nước. Đến năm 1921 thì tháp nước bị phá bỏ do khôngcòn đủ sức đáp ứngnhu

cầu cung cấp nước nữa và con đường, chạy từ sau lưng nhà thờ Đức Bà, được mở rộng và nối dài đến đường Mayer (về sau đổi Hiền Vương, nay là Võ Thị Sáu) , từ đó vị trí này trở thành giao lộ với tên gọi là CôngtrườngMaréchal Joffre. Người Pháp đã từngcho xây ở đây tượngđài ba binh sĩ Pháp bằngđồngvới một hồ nước nhỏ, biểu tượngcủa việc người Pháp làm chủ ĐôngDương. Các tượngđài này tồn tại đến năm 1956 thì bị phá bỏ, chỉ còn lại hồ nước. Giao lộ cũngđược đổi tên thành CôngtrườngChiến sĩ. Từ 1970 đến 1974, Hồ Con Rùa thực sự được trùngtu và chỉnh trang, được dựngthêm và điều chỉnh năm cột bê tôngcao có dạngnăm bàn tay xòe ra đón đỡ giốngnhư các cánh hoa đón đỡ một nhụy hoa, mangtên CôngtrườngQuốc Tế.

73 Sài Gòn Giải Phóng, 3-4-1976. 74 Giải Phóng, 3-4-1976.

75 Huỳnh Bá Thành, 1983, trang106. 76 Sđd, trang106. 77 Sđd, trang3.

78 Huỳnh Bá Thành, 1983, trang106-107.

79 Lỗ Hungkhai: “Lầu Phá Xấu và tôi đã đột nhập vào thành phố bằngcác ngả đườngdo chúngtôi điều nghiên trước, và có chở theo 10 kí chất nổ TNT lấy từ Bàu Hàm, ĐồngNai. Lúc đến thành phố, Lầu

Phá Xấu đưa cho tôi một số tiền khá lớn để thực hiện việc đặt chất nổ, đồngthời hắn bảo tôi đến nhà thờ Đức Bà để gặp một thanh niên mặc áo bộ đội ngồi ngay dưới chân tượngĐức Mẹ. Lầu Phá Xấu giới thiệu Rănggô – tên kẻ bụi đời cho tôi¼ Tôi chỉ cách cho hắn đem cái hộp để dưới bụngcon rùa đồngvà chỉ cách rút tờ giấy mười đồngra khỏi cái hộp. Tôi cũnggiao ước một cách chắc chắn rằngkhi hắn đem tờ giấy 10 đồng ấy lại đưa cho tôi thì tôi sẽ thưởngcho hắn 2.000 đồng. Rănggo nghe đến tiền thì mắt sáng lên, hắn vui vẻ nhận lời khôngmột chút đắn đo¼ Lúc nhắc điều ấy tôi biết rất chắc hắn sẽ chết khôngtoàn thây vì tờ giấy 10 đồngchỉ là một vật cách điện mong manh, rút nó đi, chiếc hộp đựngđầy TNT sẽ phát nổ tức khắc!”. Theo Huỳnh Bá Thành: “Cấu tạo kíp nổ để giết luôn kẻ đặt chất nổ là phương pháp bịt đầu mối dã man mà bọn chuyên trách vũ trangphá hoại của CIA và bọn biệt kích Mỹ thườngsử dụng” (Huỳnh Bá Thành, Sđd, trang108).

80 Người mà trongcuốn sách Huỳnh Bá Thành gọi là Lê Dạ và Tú Dung.

81 Người trongcuốn sách của Huỳnh Bá Thành được đổi thành HoàngHà Đặng.

82 Đặng Hoàng Hà bị bắt, sau khi ra tù thì vượt biên. Tuy nhiên, trong “Vụ Án Hồ Con Rùa”, nhân vật Hoàng Hà Đặng không phải bị bắt mà chạy thoát vào rừng. Đây là một vụ án có nhiều nghi vấn, nếu ĐặngHoàngHà là thủ phạm của vụ nổ thì Chính quyền hoàn toàn có thể ngăn chặn vì “Ba Sơn”, một người do công an cài vào, biết trước từng đường đi nước bước của “tổ chức” này.

83 Duyên Anh, 1987, trang48. 84 Sđd, trang49.

85 Duyên Anh, 1987, trang18-19.

86 Trà Mi, đặc tình trong “Vụ án Hồ Con Rùa”, nói: “Anh biết tại sao bọn phá hoại đặt chất nổ tại hồ Con Rùa không? Theo Đặng, lúc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lên nắm chính quyền, Thiệu đã ch một cố vấn chính trị qua Đài Loan mời một thầy địa lý về giúp Thiệu coi hướngđể xây Dinh Độc Lập. Tổng thống Tưởng Giới Thạch đã giới thiệu một thầy địa lý nổi tiếng có một không hai trên thế giới. Thầy địa lý đó đã qua Sài Gòn ở trên sáu tháng. Trongthời gian ấy, Giáo sư  ChungChen Kim – tên thầy địa lý – đi xem xét vùngđất ngay Dinh Độc Lập và xungquanh Dinh Độc Lập, đã phát hiện một ‘longmạch’ rất tốt dưới mặt đất. ‘Longmạch’ đó có cái đầu ‘long’ nằm ngay phần đất Dinh Độc Lập và có cái đuôi “long” ở côngtrườngchiến sĩ¼ thầy địa lý Đài Loan bày Thiệu xây một cái dinh đồ sộ ở đầu rồng. Để cho Phủ Đầu rồng tức Dinh Độc Lập được yên ổn, tổng thốngThiệu cai trị được muôn năm, đồngthời phải xây một cái hồ ở đuôi rồng và ếm một con rùa để cho đuôi rồng khỏi quật lật, vùngvẫy. Nếu đuôi rồngvùngvẫy thì đầu rồng lắc lư dễ sụp đổ ngai vàng. Thiệu tin, công trường Chiến sĩ được phá đi để xây Công trường Quốc tế tức hồ Con Rùa. Nhóm Hoàng Hà Đặng mê tín như Thiệu. Chúng tin rằng nếu đặt chất nổ làm bay con rùa đồng, không còn ếm được đuôi rồng nữa, ắt đuôi này sẽ quẫy và chế độ cộngsản phải sụp đổ! Chính lòng mê tín của Đặngvà đồng bọn, em tin rằngkế hoạch phá hoại hồ Con Rùa có sự tham gia của HoàngHà Đặng và Hoàng Sơn Cước” (Huỳnh Bá Thành, 1983, trang120-121).

87 Duyên Anh, 1987, trang(?).

88 Nhữngsự kiện lịch sử Đảngbộ Thành phố Hồ Chí Minh, 1975-1995, cuốn I.

89 Trong chiến dịch từ 2-4-1976 đến 28-4-1976, giới nhà văn, nhà thơ bị bắt gồm: Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sĩ, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Lê Xuyên, Nguyễn Mạnh Côn, Thế Viên, Thái Thủy, Mặc Thu, Vũ HoàngChương, DuyênAnh, (ngoài ra còn có: Nguyễn Sĩ Tế bị bắt trước chiến dịch vì bị “tình nghi trongtổ chức phản động”; Hồ Hữu Tườngbị bắt năm 1977; HoàngHải Thủy bị bắt năm 1977, can tội gởi bài vở ra nước ngoài; Nguyễn Đình Toàn bị bắt năm 1977, can tội âm mưu vượt biên; Nguyễn Thụy Long bị bắt năm 1977, can tội phản động; Nhà thơ duy nhất được đưa ra tòa kết án 18 năm khổ sai lao động là Tú Kếu “trong tổ chức chống phá cách mạng”); Nhà báo bị bắt gồm: Đằng Giao, Chu Thị Thủy và đứa con mới sinh được vài ngày, Hồng Dương, Thanh Thương Hoàng, Văn Kha, Hồ Nam, Đào Xuân Hiệp, Như Phong, Nguyễn Văn Minh, Trịnh Viết Thành, Anh Quân, Xuyên Sơn, Cao Sơn, Đặng Hải Sơn, Đặng Hoàng Hà, Lê Vũ Bắc Tiến, Sao Biển, Nguyễn Văn Mau, Hồ Văn Đồng, Lê Hiền, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Tô Ngọc, Uyên Thao, Lý Đại Nguyên, Vương Hữu Đức, Mai Thế Yên, Tô Kiều Phương, Mai Đức Khôi, Lê Trọng Khôi, (Ngoài ra còn Nguyễn Tú bị bắt từ đêm 30-4-1975 và đã chết ở khám Chí Hòa vì bại liệt; Trần Việt Sơn cũng bị bắt trước chiến dịch 2-4-1976, được tha sau 3 năm tù đày và đã chết trong khoảng tháng 9-1983). Đạo diễn điện ảnh bị bắt gồm: Hoàng Vĩnh Lộc, HoàngAnh Tuấn, Thân Trọng Kỳ, Đặng Minh Khánh; Soạn giả cải lương bị bắt gồm: Mộc Linh; Giám đốc các nhà phát hành bị bắt gồm: Nam Cường, Đồng Nai, Độc Lập, Khai Trí (Nhà sách Khai Trí); Họa sĩ bị bắt gồm: Nguyễn Hải Chí (Chóe); Dịch giả bị bắt gồm: Nguyễn Hữu Hiệu, Nguyễn Hữu Trọng.

90 Duyên Anh, 1987, trang51-52. 91 Duyên Anh, Sđd, trang51-52.

92 Trả lời phỏngvấn tác giả năm 1999.

93 Tháng 2-1976, ông Nguyễn Ngọc Bích được mời lên cơ quan công an. Cán bộ hỏi cung đặt vấn đề: “Tại sao 15-4 mới được nhận vào mà Tổng cục đã cho làm chuyên viên đặc nhiệm ngay?”. Luật sư

Nguyễn Ngọc Bích bị giam trongxà lim loại dành cho tử tù suốt một năm và khi bị hỏi cung: “Anh biết gì về kế hoạch hậu chiến; trongđó, anh được giao nhiệm vụ gì?”, ôngđoán ra, “Cách mạngnghĩ ônglà người do Mỹ cài lại”. Hai năm sau, khi đã được đưa ra phòng giam chung, khi “được” thẩm vấn, luật sư Nguyễn Ngọc Bích phân bua: “Lưng tôi bị gù thế này làm sao được tuyển làm tình báo!”. Khi ấy, những người hỏi cungdường như vô tình nói ra lý do khiến ôngbị bắt: “Anh là người do Mỹ đào tạo, anh sẽ chốngchúngtôi đến cùng”.

94 Theo nhà báo Đinh QuangAnh Thái, “Ba ngày ở phòng 2 khu A trước khi chuyển sang trại giam T30 Chí Hòa… về việc bác và tổ chức của bác Năm (tên thân mật của Hồ Hữu Tường) bị bắt, bác cho biết, ngay khi cộng sản chiếm miền Nam, bác đã in một tập tài liệu của Việt Nam Độc Lập -ThốngNhất-TrungLập ĐồngMinh Hội, rồi gởi trực tiếp bằngđườngbưu điện cho tất cả giới lãnh đạo ĐảngCộng sản, từ Bộ Chính trị cho đến các trung ương ủy viên và tỉnh ủy các tỉnh. Trong tài liệu, bác nói rõ về nhu cầu bắt buộc Việt Nam phải trung lập trong bối cảnh tình hình của khu vực Á Châu. Bác khẳng quyết rằng, trung lập là giải pháp duy nhất cho Việt Nam, và bác là người đầu tiên của Việt Nam kiên trì đeo đuổi lập trường này. Nên, một mai khi tình thế bị o ép, cộng sản Hà Nội phải nhượng bộ để chấp nhận trung lập thì họ sẽ bắt buộc phải cậy nhờ đến bác…”.

95 Theo Giáo sư Hồ Huệ Tâm.

96 Đã đổi tên theo đề nghị của nhân chứng.

97 Những văn nghệ sỹ phục vụ trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa đi trình diện học tập từ tháng 6-1975: Thanh Tâm Tuyền, Mai Trung Tĩnh, Dương Hùng Cường, Hà Thượng Nhân, Phan Lạc Phúc, Tô Thùy Yên, Văn Quang, Thảo Trường, Duy Lam, Phan Nhật Nam, Huy Vân, ĐặngTrần Huân, HoàngNgọc Liên, Diên Nghị, Phan Lạc GiangĐông, Vũ Đức Nghiêm, Vũ Văn Sâm (Thục Vũ), Đỗ Tiến Đức, Minh Kỳ, Thế Uyên, Vũ Thành An, Dương Kiền, Đinh Tiến Luyện, Nhật Bằng; Những người chết trong trại cải tạo: Minh Kỳ, Thục Vũ, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Tú, Huy Vân; Những người chết sau khi được tha: Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường, Hoàng Vĩnh Lộc, Minh Đăng Khánh, Trần Việt Sơn; Những người được tha rồi bị bắt lại: Hoàng Hải Thủy, Dương Hùng Cường, Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Đình Toàn; Nhữngngười mới bị bắt từ tháng4-1984: Nguyễn Hoạt, Phạm Thiên Thư (danh sách của nhà văn Duyên Anh).

98 Duyên Anh, 1987, trang47. 99 Duyên Anh, 1987, trang417.

100 Một loại dược phẩm chế từ một thứ cây có tên gọi là xuyên tâm liên. 101 Duyên Anh, Sđd, trang245-247.

102 Gồm hai mươi bảy tướngra trình diện và TướngLý TòngBá bị bắt tại Củ Chi. 103 Phan Lạc Phúc, 2000, trang(?).

104 Bài giảngnhân tuần tĩnh tâm cho Giáo triều Roma, theo chỉ định của Đức Giáo HoàngJohn Paul II, ngày 18-3-2000.

105 ÔngPhan Lạc Phúc viết: “Anh em từ trongNam ra cứ yên trí là “học tập một tháng”, nên quần áo mangđi theo làm gì nhiều cho nặng. Ra đây, đụngcái buốt giá của mùa đôngthượngdu miền Bắc, thêm mưa phùn ẩm ướt nên cái lạnh càngthêm thấm thía. Ban đêm cái nền xi măngtrongnhà tù nó lạnh như nước đá, mặc đủ các thứ áo quần hiện có mà vẫn lạnh, mặc cả áo mưa đi ngủ, có anh chui vào một cái bao tải vừa kiếm được mà vẫn cứ run. Hóa ra cái lạnh ở ngoài vào thì ít mà cái lạnh ở trong ra thì nhiều. Cái lạnh vì đói cơm nhiều hơn cái lạnh vì thiếu áo¼ Đã lâu lắm rồi, người địa phương ở Sơn La nói vậy, mới có năm quá lạnh như năm nay (1976). Đúnglà ‘Giậu đổ bìm leo’, vào cái lúc mà tù cải tạo ra Bắc, lại đụngngay một trận rét kinh hồn¼Mà xưa nay cái lạnh và cái đói có quan hệ ‘hữu cơ’ với nhau. Càngđói thì càng rét-mà càngrét thì càngđói. Anh em đã có người ‘nằm xuống’ vì đói lạnh. Vũ Văn Sâm (viết văn, làm nhạc) chết đêm 16 rạngsáng17-11-1976 bên bịnh xá, sau cơn gió mùa đôngbắc đầu tiên. Đến đầu thánggiêng 1977 (không rõ là ngày 3 hay ngày 13 thánggiêng, tôi nhớ khôngđược kỹ lắm) Ngô Qúy Thuyết, Tòa án Quân sự vùng4 cũngđi luôn, đi rất êm đềm, rất lặng lẽ. Sáng ra khôngthấy anh ta dậy nữa, lay chân gọi dậy thì người đã lạnh cứngtừ lúc nào rồi. Trongtờ khai của đội trưởngđội của anh Ngô Qúy Thuyết, có nói rằng: ‘Anh Ngô Qúy Thuyết được đội cử nuôi heo, anh đói quá nên thườngăn vụngcám heo. Chắc là bị ngộ độc nên đã chết’¼ Trước khi đi cải tạo, tháng 6-1975, tôi cân nặng 64 ký. Một năm cải tạo trong Nam, qua trại Long Giao và Suối Máu, tôi còn 56 ký. Ra Bắc đến trại 1, liên trại 2 Sơn La này được hơn một năm, tôi còn 44 ký. Trước đây ở Sài Gòn, sángnào tôi cũng phải tập thể dục để cho cái bụng bớt mỡ, nhỏ đi. Bây giờ ra Bắc lao độngcải tạo, nhờ ơn Cách mạng bụng tôi không những nhỏ đi mà còn xẹp lép. Trước đây ăn uống sợ mỡ, sợ đường thì bây giờ sao mà thèm đường thèm mỡ đến thế. Thèm suốt ngày, suốt đêm, thèm cả vào tronggiấc ngủ” (Bạn Bè Gần Xa, trang60-67, Văn Nghệ California, US, 2000).

106 Tạ Chí Đại Trường, 1993, trang(?). 107 Sđd, trang(?).

108 Trịnh Cung, trả lời phỏngvấn tác giả. 109 Tạ Chí Đại Trường, 1993, trang(?).

110 Theo tài liệu lưu giữ tại Bảo tàngViệt Nam ở San Jose (California, Mỹ), tổng số quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa năm 1975 là 980.000 người, trong đó, hạ sỹ quan binh sỹ chiếm 890.000 người. Số sỹ quan bị giam giữ trong các trại cải tạo: cấp tướng, 32 người (ở thời điểm 30-4, có 112 tướngtại ngũ; 80 tướng đã rời Việt Nam vào cuối thángTư); cấp đại tá, 366 người (trên tổngsố 600 người tại ngũ); cấp trung tá, 1.700 người (trên tổng số 2.500 người); cấp thiếu tá, 5.500 người (trên tổng số 6.500 người); cấp úy, 72.000 người trên tổng số 80.000 người. Ngoài ra, theo số liệu đăng ký trên toàn miền Nam còn có khoảng15.000 hạ sỹ quan an ninh, tình báo và nhân viên thuộc Bộ Nội vụ và Phủ Tổng thống; 1.200 viên chức và cán bộ “PhượngHoàng”; 4.553 cán bộ Xây dựng Nông thôn; 19.613 cảnh sát viên; 2.700 cán bộ tâm lý chiến; 315 nghị sỹ, dân biểu; 4.451 đảng viên các đảng đối lập với Chính phủ Sài Gòn; 101 lãnh tụ chính trị và thành phần đối lập; 380 văn sỹ, ký giả (Trần Trung Quân, Việt Nam 20 Năm 1975-1995, ĐôngTiến xuất bản).

111 Ngoài bốn vị tướngvà đại tá được hưởngân huệ cải tạo dưới ba năm như: Thiếu tướngQuân y Vũ Ngọc Hoàn; Chuẩn tướngQuân y Phạm Bá Thanh; Ðại tá Nguyễn văn Lộc, Tư lệnh Sư đoàn 106 Biệt Ðộng Quân vừa thành lập cuối tháng 4-1975; Ðại tá Dương Thanh Sơn, em ruột Tổng thống Dương Văn Minh. Ðại tá Ðàm Trung Mộc, cựu viện trưởng Học viện Cảnh sát Quốc gia, mất tại trại Hà Tây vào ngày 14-11-1982. Có bốn vị bị cải tạo trên mười năm: Cựu Trung tướng Nguyễn Hữu Có; Cựu Ðề đốc Trần Văn Chơn; Cựu Thiếu tướng Nguyễn Chấn Á; Cựu Thiếu tướng Phan Ðình Thứ. Có ba mươi sáu vị bị cải tạo tập trungtừ 12 đến 17 năm: TrungtướngNguyễn Vĩnh Nghi, bị bắt khi Phan Rangthất thủ; Chuẩn tướngPhạm Ngọc Sang, bị bắt cùngTướngNghi; Chuẩn tướngTrần Văn Cẩm; Chuẩn tướngLê Trung Tường; Chuẩn tướngHuỳnh Văn Lạc; Thiếu tướng Lê Minh Ðảo; Chuẩn tướngMạch Văn Trường; Thiếu tướngLý Tòng Bá; Ðại tá Nguyễn Ðình Vinh; Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai; Chuẩn tướng Phạm Duy Chất; Ðại tá Nguyễn Thành Trí; Ðại tá Lê Hữu Ðức; Chuẩn tướng Lê Văn Thân; Chuẩn tướng Lê Trung Trực; Ðại tá Nguyễn Xuân Hường; Ðại tá Nguyễn Đức Dung; Chuẩn tướng Trần Quang Khôi; Ðại tá Trần Ngọc Trúc; Thiếu tưóng Trần Bá Di; Chuần tướng Vũ Văn Giai; Chuẩn tướng Lê Văn Tư; Thiếu tướng Văn Thành Cao; Thiếu tướng Ðoàn Văn Quảng; Trung tá Bùi Thế Dung; Ðại tá Hải quân Nguyễn Văn May; Ðại tá Hải quân Nguyễn Bá Trang; Ðại tá Hải quân Nguyễn Văn Tấn; Thiếu tướng Cảnh sát Bùi Văn Nhu (chết tại trại Nam Hà); Cựu Thiếu tướng, Nghị Sĩ Huỳnh Văn Cao; Chuẩn tướng Hồ Trung Hậu; Ðại tá Nguyễn Khắc Tuân (chết tại trại Nam Hà); Ðại tá Lại Ðức Chuẩn; Ðại tá Phạm Bá Hoa; Ðại tá Ngô Văn Minh; Ðại tá Vũ Ðức Nghiêm.

112 Trả lời phỏngvấn tác giả.

113 Trongnăm 1975, báo Sài Gòn Giải Phỏngkhôngchỉ đặt dưới sự chỉ đạo của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh mà còn đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của TrungươngCục. Tác giả nhữngbài xã luận viết tronggiai đoạn này là ôngVõ Nhân Lý, tổngbiên tập báo Sài Gòn Giải Phóng. ÔngLý lúc ấy còn là phó Ban Tuyên huấn TrungươngCục, cơ quan do ôngNguyễn Văn Linh làm trưởngban. Nhữngbài xã luận, theo ôngTô Hòa, phó TổngBiên tập Sài Gòn Giải Phóngtừ 5-1975, thườngđược ôngVõ Nhân Lý viết sau khi dự giao ban trongDinh Độc Lập và quán triệt tư tưởngchỉ đạo của TrungươngCục.

114 Sài Gòn Giải Phóng, 12-6-1975. 115 Sài Gòn Giải Phóng, 15-6-1975.

116 Trả lời phỏngvấn tác giả tháng12-2004. 117 Sài Gòn Giải Phóng, 10-9-1975.

118 Diễn biến “Chiến dịch X-2” được mô tả: “Ta đã huy động hơn một vạn nhân lực, kết hợp giữa lực lượng an ninh, quân sự, kinh tài, tuyên huấn và đội ngũ cán bộ dân chính đảng, thành lập 7 đoàn, 60 đội và 10 ngàn côngnhân lao động, học sinh, sinh viên trực tiếp tham gia đánh vào mục tiêu đã định. Ta đã bắt được các đối tượngchủ yếu, chiếm lĩnh các cơ sở xí nghiệp, kho tàng. Chỉ tronghai ngày 10 và 11-9- 1975, ta đã huy độnghơn 70 vạn quần chúngnội, ngoại thành, cả người Việt lẫn người Hoa, từ tầnglớp quần chúngcơ bản đến tiểu thương, tiểu chủ và tư sản dân tộc, tổ chức mít- tin, biểu tình, sôi nổi lên án và yêu cầu trừngtrị bọn tư sản mại bản lũngđoạn, đầu cơ, tích trữ¼” (NhữngSự Kiện Lịch Sử ĐảngBộ Thành Phố Hồ Chí Minh, Cuốn I, 1975-1985, trang20).

119 NhữngSự Kiện Lịch Sử ĐảngBộ Thành Phố Hồ Chí Minh, Cuốn I, 1975-1985, trang20.

120 Một người, rất có thể là con gái của chủ “hãng gà 7.000 con”, là chị Nguyễn Thị Ngọc Dung. Tháng 9-1975, khi đang học tại trường Đại học công San Francisco (Mỹ), chị Dung nhận ra “trang trại nuôi

gà” của nhà mình trongmột phóngsự do các nhà báo nước ngoài bị kẹt lại Sài Gòn thực hiện trongkhuôn khổ một hoạt độngđược Chính quyền tổ chức nhằm tuyên truyền về “hoạt độngtốt đẹp bình thườngsau chiến thắng”. Chị Dungviết: “Tôi chắc, vì đấy là trangtrại của gia đình tôi gần Thủ Đức. Khi bất ngờ nhìn thấy, quả thực tôi có hốt hoảngvì đấy là chuyện tình cờ không bao giờ ngờ được¼ Tôi lo tới quặn đau cả người. Lo vì những người gọi là coi trại không có mặt nào tôi quen cả. Những gì mình không biết, không được biết chỉ khiến nỗi lo thêm nặng, thêm lớn. Cái đau này không phải là cái đau tưởng tượng hay cái đau tâm tưởngmà người ta hay nói, ở tôi nó là cái đau thể chất”.

121 Kết quả “đánh tư  sản” trước Chiến dịch X-2: “Về bột ngọt, hộ Đào Mậu, Hứa Quang, ta bắt được 4 đối tượng chính và bắt thêm 8 tên thư ký và tài phú, có khai thác nhưng chưa được gì thêm. Số lượng bột ngọt cũ là 2 tấn và 60 tấn nguyên liệu. Nhưng đã phân tán nhuyễn nhiều lần khắp các đại lý nhỏ nên không còn nhiều hàng hóa trong kho, để trốn thuế, chúng chuyển nợ cho đại lý, mỗi đại lý nợ công ty đến 600 triệu – ít nhất là 100 triệu. Ta có sơ hở trong việc triển khai nghị quyết đối với đại lý 1000kg trở lên… Vì đã động ổ, chúng đã phân tán hết dự trữ, do đó đang tiến hành nghiên cứu để gắn vào đánh trong đợt X-2 tiếp. Cần liên hệ với Tư Pháp Tòa án để hình thành các tòa án xử công khai trước khi ta vô đợt… Cần tập trung truy đối tượng ta bắt giữ, trong số này phải lọc một vài tên đầu sỏ để khui coi nó giấu vàng ở đây. An Ninh và Hoa Vận (Sáu Lâm), tổ chức bắt ngay, bắt tên chủ hàng Việt Hoa trong vụ tàu để khai thác. Chú ý con đường xuất cảnh của ngoại kiều, An Ninh, Ngoại vụ Thuế Quan cần kết hợp kiểm soát chặt. Vừa qua có phát hiện lọt lưới một số CIA, đi rồi mới biết, có hiện tượnghối lộ cán bộ để đi. Khai thác thêm 2 tên Yvà Phôi buôn vànglậu hồi ngụy qua mặt Thiệu, có thể đó là bọn CIA… Đối với số vàng tư trang đem đến tiệm mướn làm. Nếu có hóa đơn thì trả lại cho chủ. Nếu có tình nghi thì điều tra xong sẽ giải quyết. Đồng ý xuất tiền đã giao ngân hàng để trả lại các đối tượng chi tiêu tiền ăn, tiền điện nước” (Biên Bản Giao ban TrungươngCục ngày 3-9-1975, Thư ký Hà Phú Thuận ghi).

122 NhữngSự kiện Lịch sử Đảngbộ Thành phố Hồ Chí Minh (1975-1995), cuốn I, trang23. 123 Sđd, trang25.

124NhữngSự kiện Lịch sử Đảngbộ Thành phố Hồ Chí Minh (1975-1995), cuốn I, trang25. 125 Sài Gòn Giải Phóng, 27-9-1975.

126 Bài báo viết: “Ngay khi ra đời, tờ bac̣ Sài Gòn đã khônghề có được một chức năngkinh tế nào¼ Nhiêm vụcủa đồngbac̣ Sài Gòn (là) giữ vai trò trunggian cho Diêm xuất cảngsức lao độngcủa đồngbào

ta ở miền Nam cho Mỹ¼ Làm trung gian để tiêu thụ xương máu nhân dân miền Nam, làm trung gian để tiêu thụ thân xác của vô số thiếu nữ miền Nam, làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vu đăc lưc cho chiên tranh, lam sup đổ moị giá tri ṭ inh thân, đaọ đức cua tuổi trẻ miên Nam, lam lun baị cả phẩm chât́ môṭ số ngươi lơn tuổi… Nó sông30 năm dơ bẩn, tui nhuc̣ như cac tên chủ của no,́ và nay nó    ̀đã chết cũngtủi nhục như thế. Đó là một lẽ tất nhiên, và đó là lic̣ h sử¼ Cái chết của nó đem laị phấn khởi, hồ hởi cho nhân dân ta” (Sài Gòn Giải Phóng, 27-9-1975).

127 Sài Gòn Giải Phóng, 27-9-1975.

128 Diễn viên điện ảnh nổi tiếngtrongphim “Đời Cát”, đầu thập niên 2000, từngtham gia một vai phụ trongphim The Quiet American của đạo diễn Phillip Noyce.

129 Theo Mai Hoa, tài sản của gia đình cô chỉ chính thức bị mất vào tháng3-1978 trongđợt cải tạo côngthươngnghiệp tư doanh, khi đó, cha cô bị buộc phải ký giấy “hiến” trại cưa cho Nhà nước. 130 ÔngTrần Kiêm Đoàn hiện định cư tại Sacramento, California, Mỹ. 131 Báo Sài Gòn Giải Phóng, 3-9-1975.

132 “Cùng với Mỹ lũng đoạn kinh tế Miền Nam, xuất ít, nhập nhiều làm vật giá leo thang, lao động thất nghiệp; dùng đồng tiền đặt tay chân vào bộ máy chính quyền; đầu cơ tích trữ, mua rẻ bán đắt; thông qua đại lý tổ chức buôn lậu; xuyên tạc phá hoại các chủ trươngcủa chính phủ; hối lộ, mua chuộc, gây chia rẽ đội ngũ cách mạng; vơ vét rồi tuồn hàngra chợ trời; mua vàng, hạt xoàn tích trữ và in bạc giả; tungtin ‘Bột ngọt bị đưa ra Bắc’, ‘Xăngdầu sẽ cạn’; thôngđồngvới bọn phản độngchính trị¼”

133 Tin Sáng, 10-9-1975.

134 Sài Gòn Giải Phóng, 28 & 29-7-1977.

135 Nội dungluận tội của Côngtố ủy viên Nguyễn Hoàn với “tên tư sản mại bản” Lưu Trung: “Trongthời gian tiến hành chiến tranh xâm lược đất nước ta, một số chính trị gia Mỹ, trongđó nổi bật là Guy

Pao-ơ, đã vạch ra âm mưu xảo quyệt gọi là “liên minh giữa quân đội và nôngdân”. Âm mưu này dùng viện trợ kinh tế để biến nông thôn thành chỗ dựa của ngụy quyền, mua chuộc và lừa mị nông dân. Chúng đã tính từngđườngđi nước bước rất thâm độc: một là, chúngđưa máy móc vào nôngthôn, bước đầu cơ giới hóa một số khâu, đưa năngsuất tănglên. Hai là, khi sản lượnglúa gạo tăng, chúngtìm mọi cách vơ vét, kể cả thủ đoạn mở những cuộc hành quân càn quét cướp bóc, để phục dịch cho quân đánh thuê ngày càng phình to tới hàng triệu người. Ba là, nhờ có cơ giới hóa nông nghiệp, chúng làm giảm đi một lực lượng lao độnglớn ở nôngthôn và với chính sách đôn quân bắt lính, bổ sungnguồn lính đánh thuê để kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược…” (Sài Gòn Giải Phóng, 29-7-1977).

136 Sài Gòn Giải Phóng, 29-7-1977. 137 Sài Gòn Giải Phóng, 29-7-1977.

138 Biên bản giao ban tối 10-9-1975 của Ủy Ban Quân quản, lưu trữ tại Thư viện Ban Nghiên cứu Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh 139 Tài liệu đã dẫn.

140 Biên bản cuộc làm việc giữa Thườngvụ TrungươngCục với Thành ủy Sài Gòn-Gia Định ngày 1-9-1975, lưu trữ tại Thư viện Ban Nghiên cứu Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. 141 Biên bản cuộc làm việc giữa Thườngvụ TrungươngCục với Thành ủy Sài Gòn-Gia Định ngày 1-9-1975, lưu trữ tại Thư viện Ban Nghiên cứu Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. 142 Sài Gòn Giải Phóng, 12-9-1976.

143 Tuyên bố ngày 25-9-1976 của Chính phủ Cộnghòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

144 Theo Tuyên bố ngày 25-9-1976: “Xı́ nghiêp̣ côngtư hợp doanh là một xı́ nghiêp̣ trước đây là của tư nhân, nay do Nhà nước và người chủ cũ (hoăc̣ người đaị diêṇ ) của xı́ nghiêp̣ cùngnhau quản lý. Nhà nước giữ điạ vi ̣lãnh đaọ ; quyền lợi hợp pháp của các cổ phần tư nhân được Nhà nước bảo hộ. Các quyền lợi cơ bản của công nhân, viên chức trong xı́ nghiêp̣ được nhà nước đảm bảo” (Phó thủ tướng Nguyễn Duy Trinh ký).

145 Danh mục các ngành nghề những nhà tư sản và tư nhân được kinh doanh gồm: “Tư bản tư doanh được khuyến khı́ch, đầu tư vào các ngành khai thác, chế biến nông sản, lâm sản, hải sản, thổ sản, các ngành công nghiêp̣ , tiểu công nghiêp̣ khác theo sự hướng dẫn của Nhà nước”. Trong lı̃nh vực nông nghiêp̣ : “Tư bản tư doanh được tiếp tục kinh doanh, khai thác các đồn điền, trồng cây công nghiêp̣ , cây ăn trái, được duy trı̀ và mở rộng cac cơ sở chăn nuôi gia suc, gia cầm, cơ sở nuôi ca¼ công nghiêp̣ tâp̣ trung, được tiếp tục kinh doanh cac loaị may moc nông nghiêp̣ , đao giếng, khoan giếng, thi công cac công trınh nông nghiêp̣ , thủy lợi”. Tronglı̃nh vực xây dựng: “Tư bản tư doanh được hướngdẫn kinh doanh khai thác và sản xuất các vâṭ liêụ xây dựng, được duy trı̀ chế độnhà thầu tư nhân dưới sự quản lý của nhà nước”. Trong lı̃nh vực vâṇ tải: “Ngoài các ngành đường sắt, đường biển viễn dương, đường hàng không thuộc pham vi độc quyền kinh doanh của Nhà nước, tư bản tư doanh được kinh doanh trong các ngành vâṇ tải đường sông, môṭ phân đươngven biển (thuyên, ca-nô) và đươngbô (ô tô chở khach, chở hanghoa), dươi sự quan lý và hươngdẫn cua Nhà nươc; đươc̣ duy trı̀ cac xı́ nghiêp̣ để đongmơi hoăc̣ sửa chưa phươngtiêṇ vâṇ tải, hoăc̣ nhâṇ thầu làm cầu, đườngphục vụnhu cầu dân sinh, kinh tế điạ phương”. Tronglınh vực “thươngnghiêp̣ và dic̣ h vụphục vụ: “Viêc̣ bảo đảm phân phối các măṭ hàngthiết yếu và quan trọngcho đời sống của nhân dân là do Nhà nước và các tổ chức quần chúngchiụ trách nhiêm. Vı̀ vâỵ phải phát triển maṇ h thươngnghiêp̣ quốc doanh và maṇ glưới rộngrãi hợp tác xã mua bán và các hı̀nh thức tổ chức khác của quần

chúng để tham gia viêc̣ bán lẻ. Nhà nước nắm toàn bộ nguyên liêụ nhâp̣ khẩu, những nguyên liêụ quan trọng trong nước và hầu hết hàng hóa thiết yếu để có kế hoac̣ h bảo đảm sản xuất và đời sống. Nhà nước sẽ nắm hầu hết xuất nhâp̣ khẩu và cả ban buôn trong nươc”. (Tóm tắt Tuyên bố cua Chính phủ Cộng hoa Xã hội Chủ nghıã Viêṭ Nam về chınh sach đối vơi công thương nghiêp̣ tư ban tư doanh ở miền Nam, ngày  25-9-1976, Phó Thủ tướngNguyễn Duy Trinh ký).

146 Sài Gòn Giải Phóng, 3-11-1976. 147 Sài Gòn Giải Phóng, 29-12-1976.

148 Thôngbáo ngày 27-12-1976 của Ủy ban Nhân dân Thành phố (Sài Gòn Giải Phóng, 29-12-1976). 149 Lịch sử Giao thôngVận tải Đườngbộ, Nhà Xuất bản Tổngcục Đườngbộ, (?), trang276-277.

150 Lịch sử Giao thôngVận tải Việt Nam, Nhà Xuất bản Giao thôngVận tải, 2005, trang606.

151 Cụ thể: Trưngmua và mua, trưngthu và tịch thu 1.202 xe ô tô các loại; 58 tàu thuyền đườngsông, gồm tàu chở hàng, tàu chở khách và tàu kéo – số phươngtiện vận tải này chủ yếu thuộc người dân Sài Gòn và các tỉnh Hậu Giang, Kiên Giang¼; Tịch thu ba tàu biển, trưng mua 14 chiếc; Quốc hữu hóa hai đoàn hoa tiêu; Cho phép một số công ty xây dựng tư nhân, các nhà thầu chịu cải tạo và chịu sự điều hành của nhà nước; Trưng mua tài sản của một số công ty như: Công ty Huỳnh Như Hoa, các cổ phần trong Công ty Nguyễn Văn Tấn, Công ty Lodisbagco; Tổ chức công ty hợp doanh đối với Công ty Vinameco, Trần Dương và Trần Văn On (Lịch sử Giao thông Vận tải Việt Nam, Nhà Xuất bản Giao thông Vận tải, 2005, trang 606-607). Tính đến khi hoàn thành “công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam”, Chính quyền đã: “Trưng mua, trưng thu được 3.287 xe ô tô loại 5T và 40 ghế hành khách trở lên, hợp với các đoàn xe từ khu giải phóng, xe ngoài Bắc vào là 1.105 chiếc, tổng cộng: 4.393 xe tổ chức thành 14 xí nghiệp quốc doanh¼ Nhà nước cải tạo và xóa bỏ quyền sở hữu tư nhân về côngcụ sản xuất được 14.059 xe tổ chức thành 45 xí nghiệp côngtư hợp doanh vận tải ô tô¼ Tổngcộngcả trưngmua, trưngthu, cải tạo được 17.346 xe loại trọngtải lớn tổ chức thành 59 xí nghiệp vận tải quốc doanh và xí nghiệp vận tải côngtư hợp doanh¼ Số xe vận tải nhỏ (từ 2,5T và 25 ghế trở xuống) đã được cải tạo là 28.856 xe, tổ chức thành 281 Hợp tác xã, ở hầu hết các quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh hoặc thành phố¼” (Lịch sử Giao thôngVận tải Việt Nam, Nhà Xuất bản Giao thôngVận tải, 2005, trang276-277.).

152 Trích Chuyện thời bao cấp, Nhà Xuất bản Thôngtấn, 2009, trang53-54. 153 Cư trú tại 26C, ấp 4, xã Tân Kiên, Bình Chánh, Sài Gòn.

154 Trích Chuyện thời bao cấp, Nhà Xuất bản Thôngtấn 2009, trang53. 155 Tươngđương100 lượngvàng. 156 Sđd, trang53-54.

157 Sài Gòn Giải Phóng, 23-3-1978. 158 Sài Gòn Giải Phóng, 1-8-1977.

159 “Điều 1, Từ nay các nhà tư sản thươngnghiệp khôngđược tiếp tục làm nghề buôn bán nữa và được nhà nước khuyến khích giúp đỡ chuyển sangsản xuất. Điều 2, Khi nhận được lệnh đình chỉ hoạt động kinh doanh thương nghiệp, các nhà tư sản thương nghiệp phải kê khai theo bản mẫu quy định, cùng với tổ công tác của quận hoặc huyện, tiến hành kiểm kê hàng hóa tồn kho, cơ sở, phương tiện kinh doanh của mình và làm bản đăng ký chuyển sang sản xuất để đóng góp phần xây dựng đất nước. Điều 3, Sau khi kiểm kê xong phải lập biên bản có chữ ký của cán bộ, nhân viên kiểm kê, đại diện của Ủy ban nhân dân phường, xã và chủ hộ hoặc đại diện hộ. chủ hộ được giữ 1 bản. Điều 4, Cơ quan chủ quản, ngành, hàngthuộc sở thươngnghiệp hoặc côngty vậ tư tổnghợp thành phố có trách nhiệm trưngmua hoặc mua lại hàng tồn kho. Cơ sở và phương tiện kinh doanh đã kiêm kê theo lệnh của chủ tịch Ủy ban nhân dân TP, để đưa vào phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Điều 5, Những người vi phạm các quy định trên đây, tùy theo đối tượng, tính chất và mức độ vi phạm, sẽ bị xử lý về hành chính, kinh tế hoặc bị truy tố ra tòa án nhân dân theo luật pháp hiện hành¼” (Vũ Đình Liệu, Quyết định 341/QĐ-UB, SGGP, 23-3-1978).

160 Năm 1978 là Chủ tịch Thành phố Hồ Chí Minh. 161 Trả lời phỏngvấn tác giả ngày 4-12-2004.

162 Để mô tả tính nguyên tắc của ông Đỗ Mười, đồng thời minh họa cho tính khắc nghiệt của thời bao cấp, trước năm 1975, ở miền Bắc từng có giai thoại: “Một lần Đỗ Mười vào cửa hàng ăn uống quốc doanh gọi một tô phở, khi cô mậu dịch bưng ra, ông ngồi đếm từng miếng thịt, phát hiện có ăn bớt bèn cách chức ngay cửa hàng trưởng”. Giữa thập niên 80, theo ông Lê Văn Triết: “Một lần ông Đỗ Mười ghé qua Long Hồ, Vĩnh Long, thăm gia đình ông Phạm Hùng, người nhà ông Phạm Hùng ở quê biếu ông Đỗ Mười 10kg gạo. Trên đường về Sài Gòn, xe của ông Đỗ Mười bị một trạm kiểm soát địa phương chặn lại. Khám xe thấy có một bao gạo, bèn quyết định tịch thu. Người lái xe bảo, đây là gạo của đồng chí Đỗ Mười. Viên trạm trưởng trả lời, Đỗ Mười chứ Đỗ Mười Một cũng giữ”. Giai thoại kể thêm: “Đỗ Mười lập tức khen thưởngngười trưởngtrạm”.

163 Sài Gòn Giải Phóng, 27-3-1978. 164 Sài Gòn Giải Phóng, 27-3-1978.

165 Theo TốngVăn Công, Tổng Biên tập báo Công Nhân Giải Phóng, người tháp tùngchuyến đi của ông Mai Chí Thọ. 166 Tin Sáng, 12-9-1978. 167 Tuổi Trẻ, 14-9-1975. 168 Tuổi Trẻ, 31-3-1978.

169 Nhật ký Lý Mỹ: “Chủ nhật 7-3-76: Tại sao mình yếu đuối thế này? Qua cơn bệnh, lại bị gia đình rầy rà, mình khổ tâm quá. Thôi, hay là mình xin ra khỏi Đoàn vậy, bởi vì mình cảm thấy chưa xứng đáng là một đoàn viên khi gia đình mình vẫn còn sống trong cảnh bóc lột. Nhưng như vậy mình xin vào Đoàn để làm gì, đọc Pa-ven để làm gì trong khi chỉ một ít khó khăn trong gia đình thì mình lại chùn bước. Suy nghĩ như thế thật tồi. Không, hãy ngẩngđầu lên, hãy kiên nhẫn vượt qua mọi khó khăn” (Tuổi Trẻ, 31-3-1978).

170 Số 4 Duy Tân, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh.

171 Trích nhật ký Lý Mỹ: “Ngày 23-3-1978: Hơn 6 giờ chiều, đèn đường đã bật sáng cả con đường từ trường đến nhà. Con đường hôm nay nom có vẻ khác lạ hơn những ngày khác. Có nhiều toán thanh niên đang đóng chốt ở những cửa hàng lớn dọc trên con đường. Rồi đây cuộc sống sẽ trở nên phong quang hơn, đời sống đồng bào sẽ trở nên dễ chịu hơn khi những ung nhọt của một cơ thể đã được giải phẫu từ ngày hôm nay- ngày mở đầu một cuộc đấu tranh lớn. Mỹ vui và phấn khởi khi nghe đồngchí Thườngvụ Thành đoàn tập huấn. Đây đúnglà thời cơ để thuyết phục gia đình chuyển sangsản xuất, thời điểm chấm dứt cuộc đấu tranh giữa hai con đường trong gia đình, một thời điểm mà mình đã mong ước từ bấy lâu nay¼ Ngày 24-3-1978: “Mình nắm lấy thời cơ nầy để tuyên truyền đường lối, chính sách cải tạo thương nghiệp tư sản cho gia đình. Mình phải kiên trì thuyết phục cha mẹ, phải bám gia đình từnggiây, từngphút, giúp đỡ gia đình kê khai tài sản”. Ngày 24-3-1978 của Lý Mỹ được báo Tuổi Trẻ tườngthuật: Đi kèm bên mẹ, Mỹ luôn nhắc nhở mẹ nên kê khai những món hàng gì, thỉnh thoảng động viên người mẹ đang buồn rầu, hoang mang bởi những tin đồn thất thiệt. “Tịch thu tài sản rồi phải không? Mầy hãy lo lấy thân mầy đi, còn ăn học gì nữa”. “Đâu có ai tịch thu tài sản của mình đâu má. Mình kê khai đúng, đầy đủ, nhà nước sẽ trưng mua, với số vốn đó gia đình mình chuyển sang cách làm ăn mới. Vấn đề là mình có thành thật kê khai không”. “Vậy hả”. Rồi: Má Mỹ trở nên yên tâm hơn, sự bình tĩnh đã bắt đầu lộ rõ trên gương mặt. Trong lúc đó, Mỹ liến thoắng: “Tư trang, tư liệu sinh hoạt phải viết vào mục nào hả đồng chí?”. Miệng nói, tay viết, mà mắt Mỹ vẫn liếc vào những chiếc tủ đựng đầy ắp những món hàng để xem chừng mình đã khai đầy đủ chưa. Bây giờ, Mỹ đã trở thành một người chủ quản của gia đình. Mỹ thấy tự hào và sungsướnglạ. (Tuổi Trẻ, 31-3-1978).

172 Số ra ngày 8-4-1978.

173 Xí nghiệp “Bình Minh 9”.

174 Tronggiai đoạn 1975-1980, Chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa hơn 832 nghìn người hồi hươnghoặc đi kinh tế mới ở các tỉnh từ miền Tây, miền ĐôngNam Bộ cho tới Tây Nguyên. 90% số này rời khỏi Thành phố trong giai đoạn 1975-1980, thời gian tư sản bị cải tạo và chính sách sổ gạo bắt đầu được thắt chặt. Bằngnhữngquyết định hành chánh ấy, dân số Sài Gòn đã giảm từ 3,391 triệu người năm 1976 xuống còn 3,201 triệu người năm 1980. 7% lượng người nhập cư mới có nơi sinh là Sài Gòn, họ là những người từng bị đưa đi kinh tế mới trong thời kỳ 1975-1980. Cho đến cuối thập niên 1990, vẫn còn 24% số người khôngcó hộ khẩu thườngtrú tại Thành phố Hồ Chí Minh vốn là người Sài Gòn-Gia Định. Họ là nạn nhân của chính sách kinh tế mới tronggiai đoạn 1975-1980.

175 Sài Gòn Giải Phóng, 10-4-1978. 176 Sài Gòn Giải Phóng, 13-4-1978.

177 Sài Gòn Giải Phóng, 18-4-1978.

178 Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Lê Thành Nhơn phát biểu trước lễ tiễn 200 nhà tư sản thươngnghiệp đăngký đi kinh tế mới Gia Lành, Lâm Đồng, sáng18-4-1978- SGGP 19-4-1978. 179 Tuổi Trẻ, 23-6-1978.

180 Trả lời phỏngvấn tác giả ngày 4-12-2004. 181 Đào Duy Tùng, 2008, trang216-217-218.

182 Chỉ thị 147, năm 1977, của Thủ tướngChính phủ. 183 Sài Gòn Giải Phóng, 14-7-1977. 184 Nhân Dân, 25-3-1984.

185 “Nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở ĐôngNam Á” (điểm 3, mục II, phần thứ nhất, Nghị quyết Hội nghị Trungươnglần thứ 15 – tháng1-1959). 186 Nguyễn Thụy Nga, 2000, trang(?). 187 Lê Đức Anh, 2005, trang60. 188 Sđd, trang73.

189 Theo phía Trung Quốc, tổng số viện trợ quân sự khônghoàn lại của TrungQuốc cho Việt Nam gồm: 2,160 triệu khẩu súng cá nhân; 37.500 khẩu pháo; 12,9 tỷ viên đạn; 180 máy bay, 145 tàu; 1.500 xe tăng, thiết giáp; 16.330 xe tải; 16 vạn tấn lươngthực thực phẩm quân đội; 22 vạn tấn nhiên liệu (Mân Lực, 10 năm Chiến tranh Trung- Việt, Nhà Xuất bản Đại học Tứ Xuyên, 2-1994, Bản dịch của Tổngcục II, trang129).

190 Theo hồ sơ của B29, nếu như lượng tiền mặt từ “Tổ chức X” – mật danh chỉ Trung Quốc – được đưa vào miền Nam năm 1964 chỉ là một triệu USD; năm 1965 đã lên đến 6.232.667 USD; năm 1967: 22,4 triệu; năm 1973: 101,5 triệu¼ Lúc đầu, việc tiếp nhận khoản viện trợ này chủ yếu theo phương thức: Ông Nguyễn Nhật Hồng, trưởng phòng B29, nhận tiền USD ở Hong Kong rồi mua các loại biệt tệ như đồng riel của Campuchia, đồng kip của Lào, đồng baht của Thái Lan, đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên, quy trình “chế biến” kể từ khi mua biệt tệ đến khi đưa được tiền tương thích vào chiến trường có khi mất sáu tháng, đồng tiền đã bị mất giá. Năm 1968, khi Phó Thủ tướngPhạm Hùngđược cử vào Nam làm bí thư Trung ương Cục thay ông Nguyễn Chí Thanh, ông cho lập Ban Kinh tài Đặc biệt mang bí danh N2683. Phụ trách Ban này là ôngHuỳnh Văn Lập, tên thường gọi là Mười Phi. Thay vì mua biệt tệ ở HongKong, USD được chuyển vào Nam để ông Mười Phi đổi tiền Sài Gòn mua các loại nhu yếu cho kháng chiến. Đến năm 1970 thì B29 của ông Nguyễn Nhật Hồng “đánh” được ông Lữ Minh Châu vào Sài Gòn. Ông Châu trước đó được đưa qua Liên Xô đào tạo nghiệp vụ ngân hàng. Sau, về Phnom Penh, lấy hồ sơ của một Việt Kiều ở Campuchia đã chết, làm căn cước giả, “chạy loạn” về Sài Gòn xin làm việc trongmột ngân hàng. Từ vị trí này, ông Châu đã làm dịch vụ chuyển ngân lậu cho các đại gia và đặc biệt là các quan chức Sài Gòn theo phương thức ông Châu nhận tiền Việt Nam Cộng Hòa tại Sài Gòn, sau đó, khách hàng của ông sẽ nhận USD ở Hong Kong hoặc ở một ngân hàng Thụy Sỹ. Bằng dịch vụ chuyển ngân lậu này, B29 đã chuyển được 161,8 triệu USD vào chiến trường. Theo ông Nguyễn Nhật Hồng, B29 không thể làm tốt việc này nếu không được Trung Quốc giúp: Tại Hong Kong, Bank of China thu xếp để một ngân hàng con có biệt danh là “Anh Bảo” làm nơi giao dịch cho B29; Khi có lệnh chi ký tên Nguyễn Nhật Hồng, “Anh Bảo” sẽ chuyển tiền vào tài khoản bất kỳ mà B29 muốn. “Anh Bảo” cũngthu xếp để khách hàng của ông Lữ  Minh Châu có thể nhận được tiền mặt thôngqua một cơ sở ở HongKong, với chỉ một tờ lịch mà cơ sở này có thể đọc được số tiền thôngqua ngày thángghi trên ấy. Quỹ tiền mặt mà B29 nhận được từ Bắc Kinh rồi chi cho các chiến trường, không chỉ để mua súng mà còn mua được những thứ bị cấm vận ở miền Bắc như máy móc thông tin, xe Honda Sport loại có thể chạy trong R, ngoài ra 350.000 USD đã được dùng để “Cách mạng” làm căn cước giả cho những cán bộ vào ra “vùngtạm chiếm”.

191 Nguyễn Thụy Nga, 2000, trang188.

192 Theo tài liệu của TrungQuốc, từ tháng6-1965 đến tháng8-1973 TrungQuốc đưa sangViệt Nam tổngcộng 320.000 “quân tình nguyện” bao gồm phòngkhông, thợ máy, thôngtin, côngbinh¼ Quân số lúc đạt mức cao nhất lên tới 170.000. Báo cáo nói có khoảngbốn nghìn người TrungQuốc chết tại Việt Nam trongkhi một số học giả TrungQuốc ước tính có hàngchục nghìn. Năm 1966, khi Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình gặp Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh than phiền, lính Trung Quốc tỏ thái độ ngạo mạn như đội quân xâm lược trước đây, tuy nhiên khi Chu và Đặng nói sẵn sàng rút thì Việt Nam không đưa ra yêu cầu nào. Năm 1978 khi tới Singapore, Đặng Tiểu Bình nói với Lý Quang Diệu, trị giá hàng hóa mà Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam đánh Mỹ lên tới hơn 10 tỷ đô-la, cao hơn chi phí cho chiến tranh Triều Tiên (Ezra F. Vogel, DengXiaopingand the Transformation of China, trang271-272).

193 Nguyễn Thụy Nga, 2000, trang188-189.

194 Sihanouk & Bernard Krisher, 1999, trang131.

195 LươngPhongtrả lời DươngDanh Di tại Hà Nội năm 2004.

196 Ngày 1-2-1975, sau khi thăm Trung Quốc, Thượng nghị sĩ Mỹ, ông Mansfield, báo cáo trước Quốc Hội: “Trung Quốc tán thành để hai nước Việt Nam tiếp tục tồn tại. Trung Quốc cho rằng một nước

Campuchia thốngnhất, trunglập là điều chủ yếu trongmột ĐôngDươngổn định”.

197 Henry A. Kissinger, 2003, trang246. 198 Võ Nguyên Giáp, 2000, trang295. 199 Sđd, trang300. 200 Sđd, trang301. 201 Sđd, trang302.

202 Mân Lực, 1994, bản dịch của TổngCục II, trang127. 203 Mân Lực, 1994, bản dịch của TổngCục II, trang55.

204 Thủ tướngPhạm Văn Đồngký Cônghàm 14-9-1958. Toàn văn Công hàm được đăngtrên báo Nhân Dân ngày 22-9-1958: “Thưa đồngchí Tổnglý/ Chúngtôi xin trân trọngbáo tin để đồngchí Tổnglý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của TrungQuốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa tôn trọngquyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọnghải phận mười hai hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộnghoà Nhân dân TrungHoa trên mặt bể. Chúngtôi xin gửi đồngchí Tổnglý lời chào trân trọng”.

205 Nguyên tổnglãnh sự Việt Nam tại QuảngChâu

206 Sách giáo khoa Địa lý lớp 9 phổ thông của Nhà Xuất bản Bộ Giáo dục năm 1974 viết: “Từ những hòn đảo quần đảo Nam Sa, Tây Sa, đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, cụm đảo Bành Hồ, cụm đảo Chu Sơn là một hình cánh cungtạo nên bức trườngthành bảo vệ TrungQuốc’. Nhữngbản đồ trongsách giáo khoa đều in rõ nhữnghòn đảo của Nam Sa, Tây Sa đều là lãnh thổ của TrungQuốc” (Mân Lực, Mười năm Chiến tranh Trung-Việt, Nhà Xuất bản Đại học Tứ Xuyên 2-1994, Bản dịch của TổngCục II, trang138).

207 Từ năm 2011 là TổngLãnh sự quán TrungQuốc.

208 Nghị quyết của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, ban hành sau Chỉ thị 53, về vấn đề “cán bộ người Việt gốc Hoa” viết: “Cay đắngtrước thắnglợi hoàn toàn của cuộc khángchiến chốngMỹ cứu nước của nhân dân ta, ngay từ những ngày đầu đất nước ta được độc lập và thống nhất, tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh đã coi Thành phố Hồ Chí Minh như là một địa bàn chiến lược trọng điểm, dùngmọi thủ đoạn thâm độc mưu toan lôi kéo một bộ phận quần chúngngười Hoa chốnglại đườnglối, chính sách của Đảngvà nhà nước ta, đưa tay chân chui vào Đảngvà Nhà nước ta để phá hoại từ bên trong”.

209 Theo ôngHoàngVăn Hoan, có hơn 300.000 cán bộ người Hoa trên cả nước đã bị thanh lọc (Giọt Nước TrongBiển Cả, 1987).

210 ÔngVũ Cẩm cho rằng, chính nhờ sángkiến này mà năm 1982, Nguyễn Đức Tâm được Lê Duẩn đưa vào Bộ Chính trị giữ chức trưởngBan Tổ chức. 211 Tỉnh QuảngNinh được nhập từ Hải Ninh và HồngQuảng.

212 Theo số liệu dẫn trongThôngtri 59 của Ban Thườngvụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29-8-1978. 213 Theo số liệu ghi trongBáo cáo Hội nghị 9 của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 31-7-1979.

214 Tổngsố người Hoa bị giết bởi Khmer Đỏ trongkhoảngthời gian từ 1975-1979 tại Campuchia là 215.000 người, bằng50% tổngsố người Hoa sinh sốngtại Campuchia lúc đó (Ben Kiernan, The Pol Pot Regime, Nhà Xuất bản Đại học Yale, 1996, trang458).

215 Tuổi Trẻ, 23-6-1978.

216 Ngày 8-8-1980, ôngVõ Thanh Tòng, phó Ty Côngan Minh Hải bút phê: “Hộ ôngNguyễn Thành Đệ và Nguyễn Thị Thành (gồm chín người) đến Minh Hải đăngký xuất cảnh hồi đầu năm 1979 nhưng có lịnh đình khôngcho đi phải ở lại”. Ngày 25-6-1980, Tòa án Nhân dân Minh Hải chứngnhận, nguyên văn: “Giải quyết hộ của Nguyễn Thị Thành và Nguyễn Thành Đệ đăngký đi xuất cảnh con tàu 224 tại thị xã Minh Hải ngày 18-6-1979. Do nhà nước ngừng ông đã đến công an thị xã Minh Hải và Tòa án Nhân dân tỉnh Minh Hải kiện công ty chủ tàu 224 đòi lại số vàng ông đã nạp. Ông đến tạm trú tại thị xã Minh Hải, nay ty côngan tỉnh Minh Hải đangbắt chủ tàu Tôn Thục giam giữ để xét hỏi. Vậy theo yêu cầu của ôngxin trở về Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi cư trú của ôngcũ. Đề nghị quận và phòngnhà đất quận xét giúp đỡ gia đình ôngcó nhà ở¼ Ủy viên Thẩn phám, (đã ký) Ngô Quốc Kha”.

217 Trung Quốc ước tính có khoảng160.000 người Hoa đã phải rời Việt Nam trongkhoảngthời gian này (Shen Baoxiang, Zhenli biaozhun wenti taolun shimo, trang370-371). Nhữngngười sốngở Sài Gòn- Chợ Lớn và các tỉnh phía Nam là người Quảng, người Tiều, người Hẹ và người Phúc Kiến, đến Việt Nam từ thời “Phản Minh, Phục Thanh” với HoàngTiến, DươngNgạn Địch ở mạn ĐồngNai; với cha con Mạc Cửu ở xứ Hà Tiên. Một số khác đến gần hơn thì cũngtừ thời Nhật cai trị một phần TrungQuốc. Vốn là dân phiêu bạt, người Hoa đến Việt Nam đã khai hoang, lập ấp, lấy vợ Việt. Họ khôngchỉ là một lực lượng kinh tế sinh độngmà còn gắn với lịch sử Việt Nam, chính họ cũngđã cốnghiến cho bản xứ nhữnggiá trị văn hóa vượt thời gian: Mạc Cửu với Thi Đàn ChiêuAnh Các; Trịnh Hoài Đức với Gia Định Thành Thông Chí¼ Cho dù vẫn mang trong mình dòng máu Hoa, phần lớn người Hoa ở Việt Nam đã không còn coi đại lục là tổ quốc; khi rời Việt Nam, họ đã không về Trung Quốc.

218 Cụ thể: “Ở Kiên Giang: Ngoài số 1.413 lạng vàng và 96.913 đồngngoại tệ (trongđó có 26000 đô la) do các đồngchí Hai Cầu, Năm Thức, Chín Kỳ chủ trưởngbáo Ty Công an đưa qua Thườngvụ Tỉnh ủy làm quỹ riêng, một số đồng chí trongThườngvụ khôn gnhất trí nên đồng chí báo PhòngNgân sách Tỉnh ủy, đã đem nộp cho ngân hàng. Một số đồngchí Thườngvụ Tỉnh Ủy Kiên Giangđã lấy 158 lạng vàng đem bán lấy tiền cộng với số tiền của PA2 và tiền bắt vượt biên, tất cả là 671.921 đồng, đã chi một số còn lại 234.398 đồng đưa qua xây dựng trụ sở Tỉnh ủy. Ở Sông Bé: Lấy 185.511 đồng tiền lời (mua gỗ của lâm nghiệp về xẻ bán cho người Hoa (đóng tàu) đi PA2) để chi cho Đại hội Đảng bộ Tỉnh, một số còn để ngân sách địa phương. Ở Hậu Giang: Công an Vũ trang lấy 148.942 đồng, Ty Công an lấy 76.254 đồng thuộc tiền PA2 làm quỹ cho đơn vị, cơ quan mình. Minh Hải: Ty công an mua hàng nước ngoài bán lấy lời 190.715 đồng, bán tôm lời 847.370 đồng, tổng cộng là 1.038.085 đồng làm quỹ. Quảng Nam-Đà Nẵng: Ty côngan lấy 14.500 đồng; Côngan Thành phố Đà Nẵng lấy 53.547 đồng; Huyện Tam Kỳ, 40.000 đồng; Ty thủy sản, 53.399 đồng”.

219 Sài Gòn Giải Phóng, 26-1-1978. 220 Sài Gòn Giải Phóng, 26-1-1978. 221 Phạm Văn Trà, 2009, trang260. 222 Sài Gòn Giải Phóng, 26-1-1978.

223 Phạm Văn Trà, 2009, trang252-260. 224 Sài Gòn Giải Phóng, 26-1-1978.

225 Năm 1939, biên giới Campuchia – Việt Nam đã được xác lập theo lằn ranh Brevié, theo đó: Một đườngthẳngvẽ từ biên giới đất liền, theo một góc 140 độ về hướngvịnh Thái Lan; khi tới đảo Phú Quốc thì lệch ra ba cây số về hướngBắc, đặt Phú Quốc trongphần lãnh thổ Việt Nam. Sau năm 1954, Hải quân Việt Nam CộngHòa định một “đườngranh tuần tiễu” khác, xác lập lãnh thổ Việt nam bao gồm đảo Trọc. Cũng trong thập niên 1960, miền Bắc Việt Nam công nhận đường Brevié với Chính quyền Sihanouk, nghĩa là không bao gồm đảo Poulo Vai. Trong cuộc họp trù bị tại Phnom Penh bắt đầu từ ngày 4-5-1976, Trưởng Đoàn Việt Nam, Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền, công nhận tất cả các đảo phía Bắc lằn ranh Brevié thuộc quyền Campuchia, nhưng đề nghị đàm phán lại về “lằn ranh tuần tiễu”. Cuộc đàm phán kéo dài đến ngày 18-5-1976 thì phía Campuchia đề nghị tạm hoãn để có thời gian “xin chỉ thị của các Uỷ viên Ban Thường vụ Đảng đangđi công tác xa Phnom Penh”.

226 Trong năm 1976 mà Nuôn Chea nhắc đến “tình anh em cách mạng” đó, Khmer Đỏ đã gây ra 250 vụ xâm lấn lãnh thổ, pháo kích, tập kích, gài mìn, cắm chông, cướp trâu, cướp bò và giết hại vô cùng dã man nhiều người dân vùngbiên giới¼ Từ tháng12-1975, Khmer Đỏ đã tiến hành hàngloạt vụ gây hấn: lấn sâu vào lãnh thổ Việt Nam ở vùngSa Thầy hơn 10km; chiếm kho thóc X 114 rồi đóngluôn lại đó; bắt, mang đi toàn bộ 113 người dân làng Xộp, thuộc tỉnh Gia Lai- Kon Tum; tập kích đồn Biên phòng số 8, tỉnh Daklak¼ Thế nhưng, Phnom Penh vẫn nói, đó là những hành động gây ra “do hiểu lầm ở các địa phương” (Sài Gòn Giải Phóng, 26-1-1978).

227 Ngô Điền, 1992, trang(?).

228 Có khoảng 1.671.000 trên tổng số 7.890.000 dân Campuchia đã bị giết trong khoảng thời gian từ 1975 đến năm 1979, (21%). Trong đó, có 215.000 người Hoa trong tổng số 430.000 người Hoa ở Campuchia (50%); 20.000 người Việt Nam trong tổng số 20.000 người kẹt lại ở Campuchia; 4,000/10,000 người Lào; 2.000/5.000 người Khmer Krom; 90.000/250.000 người Chàm; 8.000/20.000 người Thái; 9.000/60.000 người thượng(Ben Kiernan, The Pol Pot Regime, Nhà Xuất bản Đại học Yale 1996, trang458).

229 Henry Kissingger, 2003, trang67. 230 Sđd, trang68.

231 Khi ở cảngSihanoukville, vũ khí được chở về gần tới nơi thì ở Hà Nội, Đại tá Lê Xuân Ba, trưởngPhòngKế hoạch của TổngCục hậu cần hẹn ôngNguyễn Nhật Hồng ra một vườn hoa, khi thì Chí Linh,khi thì vườn hoa đối diện Cột Cờ Hà Nội. Đại tá Ba kẹp tờ vận đơn mà Liên Xô cungcấp, liệt kê chủngloại vũ khí được chở trên nhữngcon tàu sắp về trongmột tờ báo. Ông Hồng cũng cầm một tờ báo bên trong kẹp bảng đơn giá vũ khí. Họ tính toán giá trị tổng số vũ khí rồi tính ra khoản tiền 10% chi cho Lonnol, 10 % chi cho Sihanouk, báo cho hai người biết khối lượng hàng hóa, khoản tiền mà họ sẽ được trả; B29 chuyển tiền vào tài khoản bí mật của hai người. Sihanouk, Lonnol kiểm tra thấy có đủ tiền thì đồng ý cho tàu vào cảng. An ninh được bảo đảm gần như tuyệt đối vì, theo ôngHồng, chính Lonnol cử  một tiểu đoàn bảo vệ trongquá trình bốc dỡ ở cảng và sau đó áp tải vận chuyển từ cảng về các căn cứ  của quân Giải phóng.

232 Sihanouk và Bernard Krissher, 1999, trang133-134. 233 Sđd, trang137.

234 TrungQuốc đã dành cho Sihanouk một khu gồm những dinh thự  đẹp, chỉ cách ThiênAn môn một quãng ngắn, để làm trụ sở Chính phủ. Ở Bắc Kinh, các lãnh tụ cộng sản TrungHoa trongkhi đưa Cựu hoàng Phổ Nghi của họ đi làm vườn đã cung cấp cho Sihanouk nhiều nhân viên phục vụ và cả một đội đầu bếp tài giỏi, một ban thư ký lớn và các dịch vụ thông thường của một Hoàng cung, kể cả nhân viên văn phòng, một đội xe con, một trungtâm thể thao và một phòngchiếu phim riêng. Theo Sihanouk: “Chu không bao giờ cho phép tôi đi tàu hỏa thông thường hoặc máy bay chở khách đến các tỉnh của TrungQuốc kể cả khi đi thăm nước ngoài. Ôngluôn dành cho tôi nhữngchuyến tàu đặc biệt có một toa rất xa hoa dành cho tổng thống hoặc thuê chuyên cơ cho tôi, kể cả một máy bay phụ để chở nhữngthùng quà ngoại giao mà tôi sẽ tặng trongcác chuyến thăm hữu nghị” (Sihanouk và Bernard Krissher, Hồi ký Sihanouk, Trần Chí Hùng dịch, Nhà Xuất bản Công an Nhân dân 1999, trang124). Trước và sau những chuyến đi, Chu Ân Lai – vị Thủ tướng của quốc gia hơn 800 triệu dân – bao giờ  cũng đích thân đưa và đón một ông hoàng thất thế bằng những nghi thức mà Bắc Kinh vẫn dành cho hàng nguyên thủ.

235 Theo Kissinger: “Chính Hà Nội đã cự tuyệt đề nghị của Mỹ phục hồi tư cách trunglập của Campuchia khi tôi trao đổi với Lê Đức Thọ trongmột cuộc gặp bí mật ngày 4-4-1970. Chính Hà Nội từ chối đàm phán hòa bình với điều kiện tiên quyết phải loại trừ tất cả những cơ cấu phi Cộng sản. Chính Hà Nội đã bác bỏ các đề nghị đình chiến vào tháng 10-1970, 5-1971, 10-1971, 10-1972 cho đến tháng 1-1973. Chính Khmer Đỏ được Hà Nội tổ chức, trang bị và hậu thuẫn đã ngăn cản việc đưa Campuchia vào Hiệp định Paris, điều mà Mỹ nhiều lần mongmuốn” (Henry Kissingger, 2003, trang470).

236 Ben Kiernan, 1996, trang16.

237 Trong khoảng thời gian từ tháng 2 cho đến tháng 8-1973, người Mỹ đã ném 257.465 tấn bom xuống các khu vực nói là của Khmer Đỏ. Pol Pot cho rằng miền Bắc Việt Nam có phần trách nhiệm khi ký Hiệp định Paris để Mỹ rảnh tay tiêu diệt Khmer Đỏ. Nhưng Kissinger thừa nhận “việc ném bom là con bài mặc cả” giữa Bắc Kinh và Mỹ, vì “Chu Ân Lai cần hoạt động quân sự của Mỹ ở Campuchia để chính sách của mình đạt hiệu quả” (Kissinger, 2003, trang 484). Chu Ân Lai biết ngay cả Trung Quốc cũng khó khiến cho Khmer Đỏ chấp thuận trừ khi chúng bị thuyết phục là “chúng không thể chiếm ưu thế về mặt quân sự khi tiếp tục bị ném bom” (Kissinger, 2003, trang484).

238 Henry Kissingger, 2003, trang475. 239 Henry Kissinger, 2003, trang475. 240 Sđd, trang474.

241 Ngô Điền, 1992, trang(?).

242 Để tổ chức chuyến đi kéo dài từ 27-2 cho đến 17-4-1973, tháng 2-1973, Việt Nam thành lập “Đoàn Thắng Lợi”, trong đó có hai cán bộ nữ phục vụ riêng bà hoàng Monique, tổng cộng 89 người. Một quan chức của Bộ Ngoại giao được cử làm TrưởngĐoàn; Cựu Đại sứ Việt Nam tại Campuchia Nguyễn Thươngvà Đại tá Lê Đình Xoàn, Phó Tư lệnh 559, Phó Đoàn. Ngày 27-2-1973, Đoàn đi xe vào ĐồngHới để ngày hôm sau đón Sihanouk cùng bà Hoàng và “cố vấn” Yeng Sary, được đưa từ Hà Nội vào bằng máy bay AN 26. Từ Đồng Hới, Đoàn đi qua Lao Bảo, theo Đường 9 Nam Lào qua Khe Sanh, Bản Đông, Sê Pôn¼ đi hết phạm vi quản lý của 14 binh trạm 559. Đến Trạm F470, nơi được mô tả là một khu rừng nằm cạnh sông Mekong, Đoàn Việt Nam “bàn giao” Sihanouk cho Khmer Đỏ rồi ở đấy chờ đón ôngquay về Hà Nội.

243 Theo lời Sihanouk kể lại với nhà báo Nayan Chanda, trong suốt chuyến đi gần một tháng trên lãnh thổ Campuchia, Son Sen, một lãnh tụ Khmer Đỏ, nói với ông: “Lính Việt Nam vẫn thường trộm cắp trong các phum, hãm hiếp phụ nữ và đặt các căn cứ, tuyển quân người Khmer trợ chiến cho họ”. Còn Khiêu Samphan thì nói: “Việt Nam đang chuẩn bị lập ra một chính phủ người Khmer nhưng phụ thuộc vào người Việt”.

244 Võ Nguyên Giáp, 2000, trang320. 245 Ben Kiernan, 1996, trang48.

246 Philip Short, 2004, trang7. 247 Ben Kiernan, 1996, trang2. 248 Sđd, trang55. 249 Sđd, trang96.

250 Ben Kiernan, 1996, trang97.

251 Nayan Chanda, 1993, trang42. 252 Sđd, trang43.

253 Ben Kiernan, 1996, trang94.

254 Ben Kiernan, 1996, trang10.

255 Trongloạt phóng sự  đăngtrên báo Giải Phóng, ba số báo đầu tháng8-1976, một thành viên của đoàn, nhà báo Tô Quyên viết: “Nếu hơn một năm trước đây, Phnom-Pênh tấp nập ồn ào¼ thì ngày nay thủ đô Chùa Tháp trở nên vắng vẻ, yên tĩnh lạ thường. Cảnh tượng vắng lặng hầu như bất động này bắt gặp ngay từ đêm đầu tiên chúng tôi từ ngoại ô qua cầu Mô-ni-vông cũ vào trung tâm thành phố. Những dãy đèn điện cao áp vẫn soi ánh mặt đường nhưng trên đường không thấy bóng người đi lại. Thỉnh thoảng mới thấy hắt ra ánh đèn nê-ông từ các cửa sổ của một vài ngôi nhà. Ban ngày, luớt qua các khu phố, chúngtôi cũngthấy phần lớn các dãy nhà đều đóngcửa hoặc bỏ trốngkhôngngười ở. Ở một vài góc đường gặp các chiến sĩ cầm súngđứng gác, lâu lâu nâng bổng cây tre sơn màu đỏ trắngchặn ngangđườngcho xe chạy qua. Buổi sớm và buổi chiều vào giờ làm việc, vài chiếc honda, năm ba chiếc ô tô vận tải đủ loại chở đầy nguời mặc áo đen, trùm khăn rằn đỏ chạy qua đường phố, bóp còi inh ỏi khi gần đến ngã tư… Để chúng tôi có thể hiểu được vì sao Thủ đô và các thành thị sầm uất trở nên vắng vẻ, thưa thớt như hiện nay, các bạn Campuchia đã giới thiệu đôi nét về tình hình vừa qua và chủ trương đưa dân về các vùng nông thôn sản xuất… Các lãnh tụ Khmer Đỏ nói: “Các đồng chí đến nước chúng tôi cứ coi như trong gia đình vì chúng ta từ lâu đã là bạn chiến đấu”… Và suốt 15 ngày ở thăm đất nước Campuchia anh em, đến bất cứ nơi nào chúng tôi cũng nhận được những tình cảm hết sức thân thiết, nồng nhiệt của bạn. Các bạn Campuchia đã coi chúng tôi như những người anh em một nhà đi xa mới về. Sự chăm sóc hết sức chu đáo, tỉ mỉ của bạn cho từngbữa ăn, giấc ngủ tại chỗ cũngnhư trongsuốt cuộc hành trình qua tám tỉnh của đoàn làm chúngtôi vô cùngcảm động. Qua chuyến đi này, đúngnhư lời của Phó Thủ TướngYêngSary trongbuổi chiêu đãi: “Đoàn cànghiểu hơn nữa nhữngtình cảm cách mạngsâu sắc và tinh thần đoàn kết chiến đấu và hữu nghị của nhân dân Campuchia chúng tôi đối với nhân dân Việt Nam, khôngcó trở ngại nào có thể làm lay chuyển nổi”.

256 Trên số báo Giải Phóng ra ngày 10-8-1976, ông Tô Quyên viết: “… Đặc biệt, từ  khi nước Campuchia dân chủ thành lập, đây là lần đầu tiên Thủ tướng Pol Pot chính thức tiếp khách nước ngoài. Với giọng nói đầy tình cảm, Thủ Tướng nhắc lại:”Chúng tôi dành ưu tiên cho đoàn báo chí Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việc đoàn đi thăm nuớc Campuchia Dân chủ là một sự cổ vũ đối với nhân dân chúng tôi”. ¼ Chúng tôi rất cảm kích nhớ mãi lời phát biểu đầy tình nghĩa của đồng chí Thủ tướng Polpot: “Tình đoàn kết hữu nghị giữa cách mạng Campuchia và cách mạng Việt Nam, giữa hai nước Campuchia và Việt Nam là một vấn đề vừa là chiến lược, vừa là tình cảm thiêngliêng. Tình đoàn kết hữu nghị đó có tốt thì cách mạngcả hai nước chúngta mới phát triển tốt được. Khôngcó con đườngnào khác”.

257 Nayan Chanda, 1993, trang82. 258 Sđd.

259 Hoa Quốc Phong, chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc, thậm chí còn khôngtrả lời thư  mời dự Đại hội Đảnglần thứ IVcủa Việt Nam.

260 Theo ông Phạm Văn Trà, khi ấy đang là tham mưu trưởng sư đoàn 330: “Cuối năm 1976¼ Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, Pol Pot bắt đầu cho quân hoạt động vũ trang ở biên giới. Lúc này, Sư đoàn 4 chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế; Sư đoàn 8 thực hiện biểu biên chế rút gọn, cho bộ đội phục viên, xuất ngũ hàng loạt. Trước yêu cầu tình hình mới, Quân khu IX được trên chấp thuận cho tổ chức Sư đoàn 330 cơ động sẵn sàng chiến đấu” (Đại tướng Phạm Văn Trà, Đời Chiến Sĩ, Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân 2009, trang 272). Theo Tướng Trà, có một số nơi đã làm tốt hơn Quân khu IX của Tướng Lê Đức Anh, ví dụ như  ở Quân đoàn II, khi cho bộ đội ra quân, Quân đoàn giữ lại một số cán bộ khung, nhân viên kỹ thuật và một tỷ lệ cựu binh nhất định nên khi có chiến sự chỉ cần đưa tân binh vào, lính cũ kèm cắp lính mới, trongmột thời gian ngắn là chiến đấu tốt.

261 Phạm Văn Trà, 2009, trang269. 262 Phạm Văn Trà, 2009, trang286.

263 Theo ông Phạm Văn Trà: “Khi bộ đội ta truy kích, địch bỏ chạy tán loạn. Nhân dân bạn bị giam cầm trong các trại tập trung, tựa đại hạn gặp mưa rào; xem bộ đội Việt Nam như  vị cứu tinh xuất hiện,cứu sống họ. Nhân dân bạn tha thiết mong bộ đội Việt Nam ở lại một thời gian để bà con được nhờ. Khi bộ đội ta buộc phải rút về, hàng nghìn người dân Campuchia nằng nặc đòi đi theo. Nhiều người vừa khóc vừa nói: Bộ đội Việt Nam là bộ đội nhà Phật, đã sang cứu sống chúng tôi. Nay bộ đội rút về, hãy cho chúngtôi về theo, nếu ở lại sẽ bị ăngca giết mất¼ Cảm thươngnhân dân bạn vô cùng, nhưng chúng tôi không thể để bà con theo về được” (Phạm Văn Trà, 2009, trang292).

264 Theo Tướng Phạm Văn Trà: “Khi quân Pôn Pốt tràn qua kênh Vĩnh Tế, đánh vào Ba Chúc, bà con vô cùng khiếp sợ. Hàng nghìn người trong xã hoảng sợ kéo vào hai ngôi chùa lớn để nương nhờ cửa Phật, hi vọngkẻ thù dù có dã man, tàn bạo mấy cũngnươngtay trước Đức Phật từ  bi. Nhưnglính Pôn Pốt đã ném lựu đạn, xả súng giết hại hàng nghìn Phật tử – phần lớn là người già, trẻ nhỏ. Một số người trốn chạy vào các hang đá trongnúi cũngbị quân Pôn Pốt sục sạo sát hại. Sau khi tổ chức cho Sư đoàn tiêu diệt gọn gần một sư đoàn quân Pol Pot, chiếm lại núi Phú Cườngvà Ba Chúc, tôi cùng một số cán bộ, chiến sĩ đã vào các hangđá tìm cứu bà con mình. Tronghangcó rất nhiều xác chết khôngđầu. Thấy chúngtôi tìm vào hang, có mấy người sống sót tưởng chúngtôi là lính Pôn Pốt, bèn quỵ sụp lạy như tế sao. Sau khi được anh em ân cần giải thích, bà con mới trấn tĩnh, kể lại nỗi kinh hoàng ngày 15-1-1978” (Phạm Văn Trà, 2009, trang293).

265 Ngày 25-1-1978, chiến sự trên Biên giới Tây Nam được  công bố trong cuộc họp báo do ông Ngô Điền – Vụ TrưởngVụ Thôngtin Báo chí Bộ Ngoại Giao – chủ trì được nói ở đầu Chương.

266 Người “chấp bút” bài diễn văn nổi tiếng này, ông Đống Ngạc, nhớ lại: “Năm 1978, khi Pol Pot gây hấn ở Tây Nam và năm 1979, khi Trung Quốc đánh ta ở biên giới phía Bắc, có người nói với tôi: Khi đó cậu viết thế là mất cảnh giác”. Ngay sau ngày 30-4, khi các đồngsự khác hăm hở theo ôngLê Duẩn vào Nam, ông Đống Ngạc được giao ngồi lại thủ Đô để chuẩn bị, ôngđược dặn: “Cậu phải viết sao cho giống Bình Ngô Đại Cáo”.

267 Bài thơ mà năm 1976 Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy làm, về nội dung chỉ “văn vần hóa” tuyên bố nói trên của ông Lê Duẩn: “Bốn nghìn năm ngoảnh lại thuở Văn Lang/ Ta đang tới đỉnh cao nhân loại”.

268 Nếu như  năm 1976, khi nghe Lực lượng Công an Võ trang báo cáo nguy cơ chiến tranh xảy ra ở vùng Biên giới ông Lê Duẩn có thể gạt đi thì năm 1977, trợ lý của Lê Duẩn, ông Trần Phương kể: “Đi khảo sát Biên giới, chúngtôi nhận ra xungđột vũ trang không phải do cấp dưới vô kỷ luật như Pol Pot giải thích nữa. Khmer Đỏ đã tác chiến bằng sư  đoàn, cấp mà địa phươngkhôngthể tự  ý điều binh được”.

269 Cũng trong khoảng thời gian này, Khmer Đỏ cho người sang gặp Ya Duck, “Phó Thủ tướng thứ nhất phụ trách nội an và ngoại giao” của Fulro (Mặt trận thống nhất đấu tranh các dân tộc bị áp bức – Front Unifié de Lutte des Races Opprimées – thành lập năm 1964 bởi một số người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, người Chăm và người Khmer Krom, chốngchính quyền Sài Gòn và chính quyền Việt Nam sau năm 1975. Phong trào Fulro tan rã năm 1992 khi 407 binh sỹ nộp vũ khí cho UNTAC tại Campuchia). Theo ông Ya Duck: “Họ đi một đoàn hơn 10 người, nói thẳng là cần sự hợp tác để chống Việt Nam”. Ya Duck sau đó đã sang Campuchia gặp Pol Pot và ông được cả cố vấn Trung Quốc tiếp. Pol Pot cũng như “cố vấn TrungQuốc” hứa sẽ giúp Fulro mọi mặt chứ  không chỉ giúp đất đai làm căn cứ.

270 Theo ôngTrần QuangCơ, nội dungcủa thôngđiệp là “Lãnh đạo Việt nam Dân chủ Cộng hòa tán thành có quan hệ tốt với Mỹ trên cơ  sở tôn trọng lẫn nhau. Trên tinh thần đó, phía Việt Nam đã tự kiềm chế trong khi giải phóng, tạo cơ hội cho người Mỹ không bị cản trở trong việc tiến hành di tản nhân viên của họ. Phía Việt Nam đã cố gắng làm mọi sự cần thiết để không làm xấu đi quan hệ với Mỹ trong tương lai. Khôngcó sự thù địch với Mỹ ở Việt Nam và Việt Nam cũng không muốn thấy như  vậy ở  phía Mỹ”.

271 Bài trả lời phỏng vấn Brian Williams, công bố trong Hội thảo Vietnam and the Presidency, 10-3-2006. 272 Khi ấy là vụ trưởng vụ Bắc Mỹ, Bộ Ngoại giao Việt Nam.

273 Hiệp định Paris ghi: “Thể theo truyền thống hào hiệp của mình, Hoa Kỳ sẽ tham gia giúp đỡ tái thiết (Việt Nam) sau chiến tranh”. Nhưng, sau khi đôi bên hoàn thành việc ký tắt, ngày 23-1-1973, Lê Đức Thọ đã thỏa thuận được với Kissinger con số viện trợ 3,250 tỷ đô-la Mỹ, ngoài ra, Mỹ sẽ viện trợ biếu khôngmỗi năm 650 triệu đô-la. Kissinger còn trao cho ôngLê Đức Thọ một bản dự  thảo công hàm về việc xây dựng lại Miền Bắc, bản chính thức đã được trao cho Việt Nam ngày 1-2-1973.Theo Kissinger: “Cuộc họp bắt đầu vào lúc 9:35 sáng thứ Ba, ngày 23-1-1973, Lê Đức Thọ vẫn thành công ngay cả tại những dịp trang trọng trong việc biến mình thành một người rất khó chịu bằng cách yêu cầu phía Mỹ đảm bảo chắc chắn về việc viện trợ kinh tế cho Bắc Việt Nam. Tôi nói với ông ta rằng điều đó chỉ được thảo luận thêm khi Hiệp định đã được ký kết; điều đó còn phụ thuộc vào việc Quốc hội thôngqua bản Hiệp định và việc tuân thủ Hiệp định” (H. Kissinger, 2003, trang429).

274 Bài trả lời phỏngvấn Brian Williams, công bố trong Hội thảo Vietnam and the Presidency, 10-3-2006. 275 Vogel, 2011, trang281.

276 Theo Thứ  trưởng Ngoại giao Trần QuangCơ.

277 Council for Mutual Economic Assistance, một tổ chức thươngmại của các quốc gia cộng sản. 278 Theo Trần Quang Cơ.

279 Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh kể: “Trung Quốc đối xử với đoàn rất kém trọng thị. Khi đến thăm tỉnh Cương Sơn cùng với đoàn tổng tham mưu trưởng quân đội Triều Tiên. Người ta đã bố trí đoàn Triều Tiên (cấp thấp hơn đoàn ta) ăn ở phòng sang trọng hơn, bố trí đoàn ta ăn ở phòng thường, thậm chí cho ngồi những chiếc ghế không có lưng dựa. Vì vậy, khi về đến Vũ Hán họp đoàn, nhận xét chuyến thăm, cả đoàn đều bất bình, đồng chí Giáp cũng bực lắm. Mọi người đều muốn gặp Bộ Ngoại giao Trung Quốc để nói rõ những sự  đối xử  không tốt đó và biểu thị thái độ bất bình. Nhưng tôi góp ý: Ta nên biết vậy thôi, bây giờ làm thế chỉ thêm căng thẳng, không giải quyết được vấn đề gì. Đoàn đồng chí Giáp cuối cùng đã đồng ý với tôi và ra về. Trên xe lửa trở về, phía Trung Quốc vẫn chưa thôi thái độ xấu, họ dọn cho đoàn cả một chiếc bát mẻ miệng”.

280 Bốn tháng sau đó, khi bắt được kẻ chủ mưu giết Thanh Nga – Nguyễn Thanh Tân, đồng thời cũng chính là kẻ chủ mưu trong vụ bắt cóc con trai nghệ sỹ Kim Cương – Cảnh sát không tìm ra bằng chứng nào liên quan tới các “âm mưu chính trị”. Nhưngtrongphiên tòa đặc biệt xử “vụ án Thanh Nga” vào ngày 4-12-1979, Hội đồngxét xử vẫn thêm vào phần luận tội: “Ai cũngthấy là Tân có một ý đồ sâu xa thâm độc hơn là những điều y nhận tội… Nghệ sĩ Thanh Nga là người có tài, có lòng yêu nước, là một chiến sĩ dũng cảm trên mặt trận văn hóa. Trước khi vụ án này xảy ra, chị đã bị bọn phản động khủng bố. Nhưng, bất chấp sự đe dọa, nghệ sĩ Thanh Nga vẫn dũngcảm làm tròn trách nhiệm của mình trên mặt trận văn hóa tư tưởng. Tronglúc đangxảy ra cuộc chiến đấu gay gắt giữa nhân dân ta và bọn “Bành trướngBắc kinh”, tronglúc người nghệ sĩ yêu nước Thanh Nga đangthủ diễn nhữngvai cổ vũ tinh thần yêu nước của quân đội ta sẵn sàngchiến đấu chốngbọn “Bành trướng phương Bắc”, rõ ràng hành độngcủa bọn Tân cố ý giết chết nghệ sĩ Thanh Nga đã gây tổn thươngrất lớn và sự phẫn nộ rất lớn tronglòngquần chúng” (Sài Gòn Giải Phóng, 6-12-1979).

281 Lời “Bài ca tạm biệt”, một bài hát thời chiến tranh biên giới.

282 Trong năm 1977, Tướng Nhim Ros, tư lệnh Quân Khu Tây Bắc, kiêm phó chủ tịch Hội Đồng Nhà nước bị giết. Tiếp đó là Bộ trưởng Hu Nim. Trung Quốc quan sát và tỏ ra muốn Khmer Đỏ bớt tàn bạo hơn. Tháng4-1978, một người TrungQuốc ôn hòa là ĐặngDĩnh Châu được cử tới Phnom Penh, khuyên Pol Pot nên sử  dụng Sihanouk để tranh thủ ủnghộ của dân chúng và quốc tế; gợi ý đàm phán với Việt Nam trên nguyên tắc “chung sốn hòa bình”. Nhưng, trongnhững ngày Đặng Dĩnh Châu đang ở  Phnom Penh, Pol Pot đưa ba sư đoàn quân TrungươngxuốngQuân Khu Đông, bắt giữ gần năm trăm cán bộ, chủ yếu từ cấp tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng và các chi khu trưởng, đưa tới trung tâm khủng bố Tuol Sleng. Tư lệnh Quân Khu Đông, còn gọi là Khu 203, Đệ nhất Phó Chủ tịch Hội đồng nhà nước So Phim, thônggia với Nhim Ros, cũngbị Pol Pot cho là không nên tồn tại. Giữa tháng5-1978, TướngKe Pauk, Tư lệnh Quân Khu Trung ương cho mời So Phim tới họp. So Phim thận trọng chỉ  cử  đại diện đi và khôngai trongsố họ trở về. Ngày 24-5-1978, Ke Pauk đưa một lữ đoàn thiết giáp tới bao vây Bộ tư lệnh Quân Khu Đông, bắt giam các sỹ quan, So Phim trốn thoát. Viên tướng được Bắc Kinh đánh giá cao này vẫn còn hy vọnggiải tỏa những”hiểu lầm” nên đã chạy về Phnom Penh, cho người liên lạc với Pol Pot. Ngày 2-6-1978, khi So Phim tới điểm hẹn, thay vì gặp Pol Pot nhữngtay súngđã đón ông. So Phim tự sát. Vợ con ông bị giết. Lực lượng từ Quân Khu Trung ươngvà Tây Nam tràn tới, tàn sát gần như toàn bộ binh lính và thường dân  sống trong các công xã Khu Đông. Con số người Khmer bị giết bởi Pol Pot trong dịp này lên tới hơn một trăm nghìn người.

283 Cho dù sau đó, ngày 30-11-1978, trợ lý ngoại trưởng Mỹ Oakley vẫn nói với ông Trần Quang Cơ, khi ấy đang được ông Thạch để ở lại New York để “giữ cầu” và ngày đêm thúc giục Mỹ bình thường hóa, rằng: “Mỹ không thay đổi lập trường bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, nhưng phải chậm lại vì cần làm rõ ba vấn đề: Campuchia; Hiệp ước Việt-Xô và người di tản”, nhưng theo ông Trần Quang Cơ: “Tôi nghĩ, thực ra Mỹ đã quyết định dứt bỏ quá trình đàm phán bình thườnghoá quan hệ với Việt Nam từ khi Việt Nam tham gia khối Comecon, tháng6-1978, và sau đó, ký hiệp ước với Liên Xô”.

284 Việt Nam ước đoán lực lượng Trung Quốc có khoảng 600 nghìn tham gia chiến dịch này. 285 Vogel, 2011, trang529-531.

286 Cục trưởng Cục Tác chiến lúc bấy giờ là ông Lê Hữu Đức thừa nhận: “Chúng ta hoàn toàn bất ngờ, ở Quân khu I, trước đó, Đàm QuangTrungđã cho tập trung súngống vào kho, làng xã  không hề chuẩn bị gì cho chiến đấu”. Tướng Đức nói tiếp: “Trong một hội nghị quân sự, Đại tướngVăn Tiến Dũng thừa nhận chúngta bị bất ngờ cả mặt trận Tây Nam và phía Bắc. Khi bắt đầu rục rịch chiến tranh, anh Văn Tiến Dũng gọi tôi tới nhà riêng, bảo tôi lên Quân Khu II nói với anh Vũ Lập: Phải tiêu diệt được vài đại đội, trungđội quân TrungQuốc. Khi đó có ai nghĩ Trung Quốc  sử  dụng tới sáu quân đoàn để  đánh ta đâu”.

287 Theo Đại tá Hà Tám, lúc đó là trung đoàn trưởng Trung đoàn 12 Biên phòng, đóng ở LạngSơn. 288 Mân Lực, 1993.

289Mân Lực, 1993, trang(?). 290 Vogel, 2011, trang533. 291 Nhân Dân, 3-3-1979.

292 Phóngviên báo Người Việt, định cư ở Orange County, California, Mỹ. 293 Tin Sáng, 28-8-1975.

294 Sài Gòn Giải Phóng, 28-8-1975.

295 Bản lược ghi ý kiến của ôngVõ Văn Kiệt, tài liệu lưu trữ riêngcủa ôngKiệt. 296 Bruce Grant, 1979.

297 Thuộc phái Khmer Tự do trong Chính phủ 3 phái Campuchia do Sihanouk cầm đầu kháng chiến chống Việt Nam. 298 Trả lời phỏng vấn tác giả  ngày 8-3-2005.

299 Giáo sư  Chu Phạm Ngọc Sơn du học ở  Mỹ  từ  năm 1959, học Lý-Hóa ở Delaware, lấy Ph.D. năm 1962 rồi về Việt Nam dạy học. Tuy nhiên Hội đồng Quốc gia đã xét phong cho ông giáo sư, học hàm mà ôngđã được chế độ cũ công nhận từ năm 1967.

300 Trụ sở của Phái đoàn Cộng hòa miền Nam Việt Nam trongỦy ban Liên hợp Bốn bên thi hành Hiệp định Paris 1973.

301 Giáo sư  Châu Tâm Luân viết: “Tháng 8 giá bột ngọt đang ổn định, bỗng tăng vọt lên 4.000 một ký rồi 5.000 đồng và trong vài ngày đã lên 8.000¼ Mặc dù chánh quyền đã lên tiếng cho biết bột ngọt khôngthiếu, một số đồng bào cứ tranh nhau mua. Thậm chí, có người khôngcó sẵn tiền vẫn vay mượn để mua thật nhiều ở giá 15.000đ một ký để mongkiếm lời khi giá tăngcao hơn nữa; để rồi phải than vãn thở dài khi giá hạ nhanh xuống 5.000đ, rồi ổn định lại ở mức 3.800đ một ký, khi chánh quyền tung bột ngọt ra bán. Sau vụ bột ngọt lại đến muối .v.v¼ Thật ra thì trong tình thế mới, nhiều mặt hàng, nhất là những hàngkhôngphải là nhu yếu và lại là hàngnhập cảng, sẽ phải tăng giá vì chúng ta còn ở tronggiai đoạn phục hồi sau chiến tranh và cũngkhông thể tiếp tục cho nhập cảng ồ ạt như lúc trước được” (Tin Sáng, 9-9- 1975).

302 Tin Sáng, 9-9-1975.

303 Vượt biên ngày 19-10-1977, đangđịnh cư ở Houston, Taxes, Mỹ. 304 Đổi tên theo yêu cầu của nhân chứng.

305 Họa sỹ Chóe kể: Khi nghe tin Huỳnh Bá Thành đột ngột mất, ôngđã bỏ buổi cà phê sángvới bạn bè ở 81 Trần Quốc Thảo, về nhà kêu vợ chuẩn bị xe rồi hai vợ chồngđi lên Đà Lạt. Cho đến nhiều năm về sau, bà Kim Loan cũng không hiểu vì sao mình được chồng chăm sóc bất ngờ như thế. Chóe chỉ giải thích với một vài người bạn thật tâm giao: “Sẽ là không thật lòng nếu mình đi đến đám ma viếng Huỳnh Bá Thành”.

306 Tiền thân tờ báo Người Lao Động.

307 Giáp Văn Thạch phổ thơ Đỗ TrungQuân. Bài thơ có tựa là Bài Học Đầu Cho Con, in lần đầu, năm 1986, trên báo Khăn QuàngĐỏ, bị cắt đi một số đoạn. Năm 1991, tác giả cho in lại bản đầy đủ trong tập thơ Cỏ Hoa Cần Gặp, Nhà Xuất bản Thuận hóa. Bài Học Đầu Cho Con được nhà thơ Đỗ TrungQuân viết như một món quà tặng thôi nôi cho con gái đầu lòngcủa nhà văn Nguyễn Nhật Ánh – cháu Nguyễn Nhật Quỳnh Anh, sinh 1985. Cũng trong năm 1986, khi phổ nhạc, nhạc sỹ Giáp Văn Thạch đã đổi tựa thành Quê Hương. Bài hát được hát trở nên có vai trò chính trị trong giai đoạn đó, nhất là khi báo Khăn QuàngĐỏ thêm vào sau câu kết của Đỗ TrungQuân: “Quê hươngnếu ai không hớ¼” câu “Sẽ khônglớn nổi thành người”.

308 Lúc bấy giờ là phó tổngbiên tập báo Côngan Thành phố Hồ Chí Minh. 309 Bộ trưởngNội vụ 1987-1991.

310 Tên thườnggọi của ôngNguyễn HùngTrương, chủ nhà sách Khai Trí.

311 Mãi tới năm 1989, ôngTrần Văn Ngọt mới vượt biên thành công, hiện định cư tại Houston, Texas.

312 Hiện đinh cư tại Đức.

313 Hiện là giáo sư tại Đại học SUNY-Buffalo, tiểu bangNew York (Mỹ).

314 Anh Vinh vượt biên đến HongKongnăm 1989, hiện định cư tại Florida, Mỹ. 315 Từnglàm việc tại bệnh viện Bình Dân, đangđịnh cư ở Houston, Texas, Mỹ. 316 Hiện định cư tại Orange County, California (Mỹ).

317 Một thuyền nhân vượt biên từ Nha Trangtừ năm 1975, hiện định cư tại Chicago. 318 Tuổi Trẻ Chủ Nhật, 23-7-1989.

319 Cho đến đầu thập niên 1990, người dân Việt Nam vẫn tiếp tục vượt biên trongkhi bắt đầu đã có nhữngngười vượt biên trước đó trở về thăm nhà. Chính sự phong lưu của Việt Kiều được trọngvọng bởi chính quyền và xã hội lại nungnấu thêm quyết tâm ra đi của nhiều người Việt Nam, nhất là những người từ các địa phương phía Bắc. Lúc ấy, chính sách đổi mới chưa đủ thời gian gây ảnh hưởngđể giữ  chân người dân. Đầu thập niên 1990, Liên Hiệp Quốc đưa ra chươngtrình “tự nguyện hồi hương”, theo đó, mỗi thuyền nhân đồngý quay trở lại Việt Nam nhận được 360 USD tiền trợ cấp. Chươngtrình này được nói là đã kích thích làn sóng vượt biên vì nếu khôngđược đến một nước thứ ba định cư, một gia đình 4-5 người có thể nhận được một khoản tiền khôngnhỏ để hồi hương.

320 Theo UNHCR: Những người vượt biên lần lượt đã định cư ở các quốc gia: Australia 110.996 người; Canada 103.053 người; Pháp 27.071 người; Đức 16.848 người; Netherlands 7.565 người. Anh quốc 19.355 người; Mỹ 424.590 người; các quốc gia khác hơn 55.000 người.

321 Từ tháng8-1975 đổi tên thành đường Điện Biên Phủ.

322 Uaz một thươnghiệu xe nổi tiếngcủa Liên Xô, ra đời từ năm 1941. 323 Ủy viên TrungươngĐảngCộngsản Việt Nam Khóa IV. 324 Khu ủy Sài Gòn-Gia Định. 325 Nay là đườngLê Duẩn.

326 Sài Gòn Giải Phóng, 22-1-1976.

327 Tố Hữu, Ta Đi Tới, in trongtập thơ Việt Bắc, xuất bản năm 1954.

328 Hiện định cư ở Orange County, California, Mỹ.

329 Lúc ấy là phó chủ tịch kiêm giám đốc Côngan Thành phố.

330 Tin Sáng, 16-9-1975.

331 Lịch sử Đảngbộ Thành phố Hồ Chí Minh, cuốn I, Ban Nghiên cứu lịch sử ĐảngThành phố.

332 Sau đổi tên thành Nhà hát Thành phố.

333 Sài Gòn Giải Phóng, 5-8-1975.

334 Báo cáo kết quả điều tra di dân tự do vào Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Kinh tế, tháng9-1997, trang8.

335 Báo cáo kết quả điều tra di dân (trang5) ghi những người đi kinh tế mới trong khoảng 1989-1995 chủ yếu là tự  nguyện.

336 Sài Gòn Giải Phóng, 25-5-1975.

337 Sài Gòn Giải Phóng, 25-5-1975.

338 Sài Gòn Giải Phóng, 25-5-1975.

339 Không chỉ tuần hành thị uy ngoài đường, trong khí thế đó, các thanh niên bảo vệ Văn hoá còn dự định sẽ vào tận từng nhà để truy tìm, dẹp bỏ các văn hoá phẩm xấu. Tuy nhiên, theo ông Dương Đình Thảo, Giám đốc Sở Văn Hóa thông tin, sau chuyến công tác nước ngoài trở về, ông Thảo đã góp ý với ông Võ Văn Kiệt và đặc biệt với Trưởng Ban Tuyên huấn Trần Trọng Tân, để “chiến dịch bài trừ văn hoá” khônglan vào các nhà dân.

340 Sài Gòn Giải Phóng, 1-6-1975. 341 Sài Gòn Giải Phóng, 4-6-1975.

342 Ôngvà gia đình vượt biên năm 1978. 343 Nay là đườngPhan Đình Phùng.

344 Về sau, khi cuộc sốngkhó khăn, chúngđược mangra bán ở chợ sách ĐặngThị Nhu. 345 Theo lời kể của ôngNguyễn Diên Hồng, con trai cụ Nguyễn Đức Phong. 346 Sài Gòn Giải Phóng, 30-10-1975. 347 Sài Gòn Giải Phóng, 25-12-1975.

348 Từ  Đông Đức trở về, quần áo mà ôngLê Xuân Nghĩa mang theo cũnglà quần loe vì nó đang là “mốt của toàn thế giới”. Một hôm, ôngđangđạp xe giữa đường phố Hà Nội thì bị côngan ách lại và ngang nhiên rạch cả hai ống quần từ gấu đến ngang hông. Tức tối, ông Nghĩa về cơ  quan là Ủy ban Vật Giá để nhờ giúp phản đối chuyện can thiệp thô bạo. Nhưng, cả lãnh đạo cơ quan và Bí thư Đảng ủy đều cho rằng côngan làm thế là đúng. Chủ nhiệm Ủy Ban Vật giá, ông Tô Duy nhận xét: “Cái quần nó loe thì đầu óc nó cũng loe”. Tuy, ít nơi chính thức ban hành những”mệnh lệnh cấm đoán”; nhưng, nếu như các mệnh lệnh thườngcó giới hạn thì các “phongtrào” lại khôngcó điểm dừng, nhất là khi các đoàn viên “hồngvệ binh” được huy độngđể chốngnhững”kiểu ăn mặc càn quấy” ấy. Nhiều nơi, nhữngngười mặc quần loe, để tóc dài đã bị các đoàn viên, có nơi bị công an, giữ lại dùng dao, kéo cắt quần, cắt tóc giữa đường (Theo Đặng Phong, Tư Duy Kinh Tế Việt Nam). Ông Phan Minh Tánh, Bí thư Đoàn Thanh niên Cách mạng miền Nam kể, khi ra Hà Nội ôngthấy, ở cơ quan Trung ương Đoàn cũngcó bảng”không tiếp thanh niên mặc quần loe để tóc dài”.

349 Mao khôngcó râu còn đầu Lenin thì khôngcó tóc.

350 Tính đến cuối năm 1974, ở miền Nam Việt Nam có 258.514 xe, gồm: 35.384 xe vận tải nặng; 64.229 xe du lịch; còn các xe máy dầu, xe gắn máy 2-3 bánh thì không tính hết vì chính quyền miền Nam không buộc các xe dưới 49cc phải đăng ký. Chỉ riêng Sài Gòn năm 1974 đã có 599.215 xe gắn máy, 3.025 xe taxi, 1.270 xích lô máy, 5.348 xích lô đạp. Tổng số xe công của các cơ quan và các đoàn ngoại giao có trên toàn miền Nam đến năm 1974 là 973.624 xe.

351 Sài Gòn Giải Phóng, 17-9-1975. 352 Sài Gòn Giải Phóng, 7-10-1976.

353 “Ngày 26-5-1976, trongcơn mưa bão tầm tã, đồngchı́ Võ Văn Kiêt, phó bı́ thư Thành ủy Đảng Lao động Viêt Nam, chủ tich Ủy ban nhân dân Cách maṇg thành phố Hồ Chı́ Minh, đã đi xem cơ sở biến chế than quả bàng, nhằm giải quyết tốt vấn đề chất đốt cho nhân dân thành phố. Miền Nam trước kia rất dồi dào than củi. Nhưng từ khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến xâm lược, bằng chính sách khai quang, dùng chất độc hủy hoại cây cối, khiến các rừngđước, rừngvẹt ở rừngSác, Cà Mau, nơi cungcấp than củi cho nhân dân thành phố bị hủy diệt trên một quy mô rộnglớn, vấn đề chất đốt trở thành mối bận tâm lớn của nhân dân thành phố. Đồngbào phải dùng điện , dầu hôi hoăc̣ hơi đốt để nấu ăn, như thế rất tốn kém. Hoăc̣ phải dùngthan hầm, củi của các rừngmiền đông cũng rất đắt, laị thiếu vê ̣sinh. Đồng thời, cũngphı́ pham rất nhiều cây gỗ, là nguồn tài nguyên quý báu của đất nước. Để giải quyết tình trạng trên, Đảng bộ và Ủy ban Thành phố đã chỉ thị cho các ngành chuyên môn phải khẩn trương nghiên cứu, tìm biện pháp giải quyết. Và lần đầu tiên, than quả bàngđược phổ biến cho nhân dân dùngvà được hoan nghinh như một loại chất đốt tiện lợi và tốt. Than quả bàng làm bằngthan đá từ miền Bắc gởi vào, trộn vơi đất, rồi dùng máy ̉ép laị cho chăc và phơi (hoăc̣ sấy) khô. Trước hết, giá thành rất rẻ, chı̉ bẳng từ 1 phần tư đến 1 phần ba giá than củi trên thi ̣trường. Một gia đı̀nh 5 người ăn, nấu 2 bữa cơm và 3 món thức ăn chı̉ tốn mỗi ngày khoảng 1k gthan quả bàng, tri ̣giá độ7 xu (tức 35 đồngtiền cu)̃ ” (Sài Gòn Giải Phóng, 28-5-1976).

354 Sài Gòn Giải Phóng, 7-10-1976.

355 “Người xin đi đem giấy chứng nhận nhân khẩu thường trú và thẻ căn cước đến công an phường, xã; Làm một đơn trình bày lý do xin đi (mẫu đơn đã in sẵn xin tại văn phòng công an phường, xã); Làm một bản tự khai (mẫu in sẵn tại văn phòng công an phường, xã); Công an phường, xã xác nhận đơn và tờ khai chuyển lên công an quận, huyện xét cấp. Thời gian xét cấp chậm nhất là ba ngày”. Đi các vùng biên giới, hải đảo, trên biển: “Người xin đi phải đem giấy chứng nhận nhân khẩu thường trú và thẻ căn cước đến côngan phường, xã; Làm một đơn trình bày lí do xin đi (mẫu đơn in sẵn tại văn phòngcôn gan phường, xã); Công an phường, xã xác nhận đơn và bản tự khai chuyển lên công an quận, huyện và chuyển lên Sở Công an thành phố xét cấp. Thời gian xét cấp sẽ được giải quyết trong vòngba ngày”. Đi các tỉnh phía Bắc: “Người đi đem giấy chứngnhận nhân khẩu thườngtrú và thẻ căn cước đến Công an phường, xã; Làm một đơn trình bày lí do xin đi; Làm một bản tự khai (mẫu in sẵn tại văn phòng công an phường, xã); Côngan phường, xã xác nhận đơn và bản tự khai chuyển lên công an quận, huyện xét duyệt cấp; Riêng đối với cán bộ, công nhân viên nhà nước chỉ cần có giấy phép và giấy giới thiệu của cơ quan (không phải làm đơn, không phải làm bản tự  khai, đem tới Sở  Công an thành phố sẽ được xép cấp)” (Sài Gòn Giải Phóng, 21-1-1977).

356 Tuổi Trẻ, 3-2-1976.

357 Trần Bạch Đằng nói: “Chúng ta quan niệm đẹp từ bản chất. Đó là luân lý dân tộc và đó cũng là quan điểm khoa học. Tuyệt đại đa số thanh niên chúng ta hiểu cái đẹp trong tư thế chiến đấu, trong động tác xungphongđánh giặc dũngcảm, trongtư thế đĩnh đạc trước hiểm nguy và trước mặt kẻ thù. Người ta có thể dựngtượngmột thanh niên cắp lê phóngvào giặc Mỹ hoặc một thanh niên ưỡn ngực trước dùi cui của bọn cảnh sát ngụy nhưngkhôngmột nghệ sĩ nặn tượngnào hứngthú về một anh thanh niên tóc xấp xỏa ngangvai, quần áo nửa xanh nửa đỏ in đầy chữ quảngcáo pepsi cola, lái honda lượn nghinh ngangtrên đường phố…”. Ông Trần Bạch Đằng kết luận: “Luân lý của chế độ cũ nhồi nắn cho chúng ta cái ý thức làm ít hưởng nhiều, sự khôn ngoan là biết cách không làm gì hết mà vẫn sống phè phỡn, học hành cốt chọn một nghề gì ít mất sức nhất mà hưởnglợi nhiều nhất. Luân lý phản độngấy đã tạo cho một số thanh niên ghét nắng, kỵ mưa, mù sươngkhôngưa¼ Giữ cái mịn màngcủa làn da hơn là giữ độc lập, tự do của dân tộc và phẩm giá, tiết trinh của chính bản thân” (Trần Bạch Đằng, luận về cái đẹp, lược ghi, đăngtrên báo Tuổi Trẻ ngày 7-5-1976).

358 Theo ông Võ Ngọc An, người phụ trách thời kỳ đầu của báo Tuổi Trẻ, hầu hết những bài báo “đánh tư sản mại bản”, dạy dỗ “Ngụy quân, Ngụy quyền” mà các báo đăng đều được lấy từ những tài liệu do Ban Tuyên huấn soạn sẵn và cung cấp. Ban Tuyên huấn Miền đến năm 1976 vẫn còn hoạt động, TrưởngBan là ông Nguyễn Văn Linh và Phó Ban là ôngTrần Bạch Đằng.

359 Xem Nhật ký Lý Mỹ, chươngIII – Đánh tư sản.

360 Theo Kim Hạnh, nguyên cán bộ Hội, tổngbiên tập Tuổi Trẻ (1981-1991). 361 Theo ca sỹ Khánh Ly.

362 DươngĐình Thảo, trả lời phỏngvấn tác giả.

363 Bác sỹ Vũ Quần Phươngđược đào tạo trên miền Bắc, nhưngôngkhôngphải là đảngviên vì có một người chú ruột di cư vào Nam.

364 Nguyên văn “the road to hell is paved with good intentions”, bắt nguồn từ câu viết nổi tiếngL’enfer est plein de bonnes volontés et désirs của Thánh Bernard xứ Clairvaux

365 Trao đổi với tác giả qua email.

366 Tên thật của nhà thơ Thận Nhiên.

367 Mãi tới năm 2009 Đỗ TrungQuân mới côngbố bài thơ này trên blog. 368 Chỉ thị 222 ngày 17-6-1975 của Ban Bí thư.

369 TrongChỉ thị 222, Tố Hữu viết: “Trước hết, chúngta cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc rằngthầy giáo và học sinh ở các trườngđại học và chuyên nghiệp ở miền Nam là nhữngngười con của dân tộc Việt

Nam, là nạn nhân của một nền giáo dục nô dịch và phản độngcủa Mỹ và tay sai, chúngta phải có trách nhiệm giáo dục đầy đủ để họ nhanh chóngtrở thành nhữngngười côngdân trí thức yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội”.

370 ÔngPhan Lạc Phúc viết: “Khi tôi đi cải tạo con gái út tôi mới có năm tuổi. Khi tôi về nó đã mười lăm tuổi bắt đầu thiếu nữ. Các chị nó “vượt biên” hết cả chỉ còn nó ở lại với “mẹ cháu” đợi tôi. Khi tôi về, nó theo tôi đi chơi tha thẩn. Ở Hóc Môn nó không có bao nhiêu bạn. Nó theo tôi lên Sài Gòn chơi với Tr. T. con gái Thanh Tâm Tuyền, hay “đi chợ” với chị Ch. con gái bác Hà Thượng Nhân. Thôi thì bố chơi với bố, con chơi với con cũnglà phải đạo. Chưa được gặp nhưngcon tôi nó muốn gần chị G., con gái đầu của Tô Thùy Yên. G. học thật giỏi. Trongmột xã hội Xã hội Chủ nghĩa (khôngcó giai cấp) nhưngkhi thi vào đại học có 15 thứ hạng. Ưu tiên hạng1,2,3 thuộc gia đình cách mạnghay “chính sách” thì, thi 3 bài từ 7 điểm trở lên đã được “chiếu cố” vô Đại học rồi. Con gái “ngụy quân” như chúngtôi đứnghạngthứ 14 áp chót (hạng chót là gia đình phản động, phản cách mạng). Khi bố đi tù cải tạo về rùi thì lại lên được một hạng, hạng 13. Con gái ngụy quân muốn vô Đại học phải đạt 21 điểm, gấp 3 số điểm gia đình chính sách thì mới vô đại học được” (Phan Lạc Phúc, Bạn Bè Gần Xa, Nhà Xuất bản Văn Nghệ, 2002, tr 420-421).

371 Nhật ký Nguyễn Mạnh Huy.

372 Thư bạn đọc Nguyễn Kỳ Tâm viết: “Khi giải phóng, tôi vừa 17 tuổi. Trong cái nô nức, hồ hởi của những người chung quanh, tôi cũng thấy lòng mình rộn lên bao niềm tự hào, hãnh diện. Tôi trở về Sài Gòn tiếp tục học để thi vào đại học. Tôi tham gia nhữnghoạt độngthanh niên, và chính nơi đây, trongnhữngbuổi sinh hoạt, qua nhữngcâu chuyện, sách báo… tôi dần dần thấy ra vấn đề lý lịch của mình. Rồi tôi rớt đại học. Tôi xin vào làm tại một số cơ quan nhà nước, nhưngchờ mãi cũngchưa thấy nơi nào trả lời. Gần hai năm rồi tôi vẫn cứ là cảm tình Đoàn, và nhiều sự việc khác cứ làm tôi suy nghĩ… Tuổi Trẻ ơi, phải chăng tương lai của chúng tôi coi như chấm dứt, xã hội mới sẽ không có chỗ đứng nào cho những người như chúng tôi? Có phải số phận đen đủi với cái lý lịch quái ác sẽ đưa tôi ra ngoài rìa xã hội? Mà tôi có ao ước gì cao xa đâu. Chỉ muốn sốngvà côngtác bình thườngmà khôngbị nghi kỵ, thành kiến”.

373 Năm 1978, Luật sư Trần Văn Tuyên, một trí thức nổi tiếng, có cô con gái thi đậu đại học nhưng không được học. Các trí thức Sài Gòn phản ứng nhưng không ai dám giải quyết vì đấy là nguyên tắc. Nhờ ôngKiệt can thiệp, con gái của Luật sư Trần Văn Tuyên, khôngnhữngđược vào đại học mà còn được đi du học tại Liên Xô.

374 Ông Võ Văn Kiệt nhấn mạnh”hậu quả của chính sách độc hại nhất của nước Mỹ”, rồi phê phán: “Một tâm lý xã hội tiêu thụ cực đoan đã giết chết thói quen và tinh thần yêu lao động cố hữu của dân tộc. Trongmọi vết thươngcủa chiến tranh, chính vết thươngtinh thần đó là khó chữa nhất”. Ôngkêu gọi: “Trongnhữngnăm chiến đấu,¼ có bạn trẻ nào khôngxúc độngvới câu hát: ‘Nếu là người tôi sẽ chết cho quê hương?’ Quê hương hôm nay không đòi hỏi mỗi người tuổi trẻ phải chết. Đất nước vĩnh viễn độc lập, tự do rồi. Quê hương đòi hỏi anh phải sống và sống cho ra sống. Câu hát đó ta nên sửa lại là: ‘Nếu là người tôi phải sốngcho quê hương’. Sốnglà chia sẻ ngọt bùi với nhân dân. Sốngkhôngphải ăn bám mà là lao động”.

375 Về sau Trần Ngọc Châu trở thành Tổng thư ký tòa soạn báo Tuổi Trẻ, Phó TBT Thời báo Kinh Tế Sài Gòn.

376 Nhà văn viết chuyện thiếu nhi.

377 Cha Nguyễn Nhật Ánh phải cải tạo từ 1975-1982.

378Trong bài phát biểu này, ông Võ Văn Kiệt đã nêu những ví dụ: “Ở một đại đội có hai đồng chí gàn bướng nhất đơn vị, không biết nội quy kỷ luật là gì, đánh lộn gây gỗ là thường xuyên, thì nay đã là cá nhân xuất sắc của Đại hội, một đồng chí là tiểu đội trưởng, một đồng chí là tiểu đội phó của đơn vị. Có đồng chí trước đây xâm tay xâm mình, đã lấy thanh sắt hoặc đũa nướng xóa đi những vết xâm đó, thà rằng mangthẹo còn hơn”.

379 Theo phát biểu của ôngVõ Văn Kiệt ngày 3-3-1977: “Có người xuất thân từ công nhân, ở đợ, văn hóa chưa làm được toán trừ thì nay đã là đại đội trưởng, liên đội phó xuất sắc, giỏi về côngtác chính trị và cả về quản lý, kỹ thuật. Có người trước đây chuyên buôn bán chợ trời, thì nay trở thành cán bộ, giáo viên văn hóa. Có đại đội với ngót 40% thanh niên là binh lính thuộc chế độ cũ và lưu manh, xì ke ma túy, sau sáu thángphấn đấu đã bình, tuyển được gần tám mươi cá nhân tiên tiến, xuất sắc và biểu dương. Nhiều anh em trước đây khôngbiết chữ, nay vào thanh niên xungphongđã biết chữ”.

380 Cách nói chỉ nhữngngười khôngthuộc sự quản lý của một cơ quan nhà nước hoặc tổ chức chính trị nào. 381 Tiểu thuyết Trăm SôngVề Biển của Nguyễn ĐôngThức là dựa trên câu chuyện có thật này. 382 Tổngtập Lê Duẩn, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002, trang933.

383 Lâm Văn Tết (1896-1982) là một trí thức có uy tín lớn ở miền Nam. Gia đình ônglà một đại điền chủ ở Bạc Liêu. Từ năm 1943, ôngLâm Văn Tết hoạt động chống Pháp nhưng thân Nhật. Ôngtừngủng hộ Việt Minh nhưng sau đã bỏ về thành vì không tán thành cộng sản. Dưới thời Ngô Đình Diệm, ông chống lại sự can thiệp của Mỹ và khi ông Diệm bị lật đổ, Lâm Văn Tết được mời làm phó chủ tịch Thượng Hội đồngQuốc gia, một cơ quan giốngnhư thượng viện (nhưng không do dân bầu). Từ năm 1965, khi ôngbày tỏ sự bất mãn trước việc quân Mỹ được đưa tới miền Nam, cán bộ trí vận đã vận độngđược ôngbỏ thành theo Mặt trận Dân tộc Giải phóngMiền Nam.

384 Văn kiện ĐảngToàn tập, tập 36, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2004, trang182.

385 Các tuyên bố quan trọng của Mặt trận đều do Ban Bí thư chuẩn bị từ Hà Nội rồi chuyển vào cho Trung ương Cục. Trong bức điện số 598 ngày 30-4-75, Ban Bí thư gửi Trung ương Cục, viết: “Ngoài

này đangchuẩn bị tuyên cáo của Chính phủ Cách mạngLâm thời. Khi làm xongsẽ điện vào các anh góp thêm ý kiến” (Văn kiện ĐảngToàn tập, tập 36, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2004, trang180). Ban Bí thư làm việc chi tiết đến mức, ngay trongngày 30-4-1975, đã gửi “Điện 597” hướngdẫn: “Bình thường, thì treo một cờ Chính phủ Cách mạng, nhữngngày lễ lớn thì treo thêm cờ đỏ sao vàng. Trước mắt, vào Sài Gòn treo một cờ miền Nam, đến ngày mừngchiến thắngchunghãy treo hai cờ” (trang179).

386 Theo Bộ trưởngNgoại giao Chính phủ Lâm thời Cộnghòa Miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình: “Vấn đề chı́nh tri ̣nổi lên lúc này là nên thốngnhất về măṭ hành chı́nh nhà nước vào thời gian nào? Có

ý kiến cho rằngviêc̣ thốngnhất hoan toan đất nươc là khôngcó gı̀ phaỉ ban caĩ vı̀ là nguyêṇ vọngsâu xa cua toan dân trên cả hai miền. Độc lâp̣ và thốngnhất là mục tiêu cơ ban cua cuộc đấu tranh trongmấy chục ̉̉

năm liền của dân tộc. Nhưngcó nên duy trı̀ trongmột thời gian hai chı́nh quyền với nhữngchế độchı́nh tri ̣khác nhau, miền Bắc là xã hội chủ nghı̃a, còn miền Nam là chế độdân tộc, độc lâp̣ , trunglâp̣ theo cương

lı̃nh của Măṭ trâṇ Dân tộc Giải phóng Miền Nam? Như vâỵ là để miền Nam có thể tranh thủ sự viêṇ trợ và hợp tác rộng rãi không những của các nước xã hội chủ nghı̃a, các nước dân tộc mà cả các nước và tổ

chức tư ban. Sau cung, ý kiến nhất trı́ cho rằng nên thực hiêṇ thống nhất đất nươc hoan toan về cac măṭ cang sơm cang tốt. Tôi đã giơ tay tan thanh” (Nguyễn Thị Bình, Hồi ký, Nhà Xuất bản Tri Thức 2012,

trang189).

387 Theo nhà báo, cựu dân biểu Hồ Ngọc Nhuận.

388 Văn kiện ĐảngToàn tập, tập 36, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2004, trang163. 389 Văn kiện ĐảngToàn tập, tập 36, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2004, trang223. 390 Chữ R có thể xuất xứ từ chữ Ré-gion tiếngPháp. 391 Lúc ấy là phó bí thư Sài Gòn – Gia Định.

392 Bí thư Lê Duẩn nói: “Tôi đi vào trong đó xem, họ có cái máy trộn nhựa đường, cho đá vào, họ bảo trộn như thế ngay lập tức có thể tráng được 100 lần[?]. Còn ta thủ công, ngồi ngay ngoài đường làm,

khôngđược bao nhiêu cả¼ Tại sao người thợ ở ngoài này khôngbằngngười thợ ở trongkia? Mình trả lời sao?Anh là chủ nghĩa xã hội mà tại sao anh lại khôngbằng được trong kia, anh trả lời làm sao?… Tại sao chúngnó là tư bản, chúngnó bóc lột rất dữ mà năngsuất vẫn cao?”. Rồi ôngtrả lời: “Vì tư bản đã đi đúngtheo quy luật của tư bản, nó bóc lột nhưngmà vẫn tiến lên. Còn ta là chủ nghĩa xã hội nhưng ta đã chưa đi đúngtheo quy luật xã hội chủ nghĩa của ta. Đúngmặt này nhưngchưa đúngmặt kia, cho nên ta cứ chập chờn mãi, chòngchành mãi”. ÔngLê Duẩn nói tiếp: “Anh Năm[TrườngChinh] có đề nghị với tôi rằngở miền Bắc cũngcứ cho nhữngngười thợ thủ cônglàm chủ một số côngnhân, cứ cho họ làm đi, chứ khôngphải chỉ riêngmiền Nam đâu. Tôi cho rằngcũngnên làm việc này, cho tự do phát triển¼ Bộ Chính trị sau khi nghiên cứu thấy rằngcần phải để mấy thành phần kinh tế là quy luật cần thiết tronggiai đoạn bước đầu này… Ở miền Bắc trước đây phải hợp tác hoá ngay lập tức¼ Nhưngmiền nam bây giờ khôngthể làm như vâỵ được. Miền Nam bây giờ nếu anh không để cho giai cấp tư sản phần nào đấy, mà nông dân thì phần nào hóa tư sản rồi, anh mà làm sai đi thì công nông không liên minh được đâu. Phải có tư sản, phải cho nó phát triển phần nào đã. Phải để kinh tế mấy thành phần thì nôngdân mới theo ta, liên minh mới chặt chẽ được. Bây giờ nôngdân ở miền nam họ làm rất khá. Bắt hợp tác hoá là khôngđúng, năngsuất thấp xuốngthì hỏnghết cả, nó sẽ khôngtheo giai cấp vô sản nữa, khôngthốngnhất được đâu”( Lê Duẩn phát biểu tại Hội nghị Trungương24, lưu trữ tại Văn phòngTrungương, VK.36.42).

393 Ngày 13-8-1975, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn nói: “Bây giờ nói đến thốngnhất đã. Chúngta đồngtình thốngnhất ngay bây giờ đây, đồngtình cả rồi đấy. Nhưngtôi nghĩ, vấn đề này cũnglà một vấn đề rất quan trọng: có nội dunglịch sử của nó cơ; có nội dungchính trị, kinh tế, xã hội của nó cơ¼ Các đồngchí hôm qua nói, thắnglợi trọn vẹn nhất, chữ trọn vẹn ấy, tôi hiểu khác các đồngchí, trọn vẹn nhất có nghĩa là ba mươi năm nay từ khi có Đảngđến giờ, ta xây dựngđược một nước Việt Nam Độc lập Xã hội Chủ nghĩa. Độc lập và chủ nghĩa xã hội, trọn vẹn là cái đó cơ” (Lê Duẩn phát biểu tại Hội nghị Trungương24, lưu trữ tại Văn PhòngTrungương, VK.36.42).

394 Nghị quyết Trungương24, khóa III, 1975.

395 Mật danh của chiến dịch “Đánh tư sản” tháng9-1975.

396 Nghị quyết Hội nghị Trungương24, khóa III: “Phải xoá bỏ tư sản mại bản bằngcách quốc hữu hóa cơ sở kinh tế của họ, biến thành sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý. Đối với kinh tế tư sản dân tộc,

thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa bằnghình thức côngtư hợp doanh, bắt đầu từ nhữngcơ sở sản xuất kinh doanh quan trọng. Cho phép tư sản dân tộc tồn tại và kinh doanh một số ngành nghề nhất định phù hợp với quốc kế dân sinh, với số côngnhân hạn chế, dưới sự chỉ đạo của nhà nước và sự giám sát của côngnhân” (Lê Duẩn phát biểu tại Hội nghị Trungương24, lưu trữ tại Văn PhòngTrungương, VK.36.42).

397 Ngày 1-9-1975, ThườngVụ TrungươngCục đã làm việc với Thành uỷ Sài Gòn-Gia Định để thôngqua kế hoạch “Chiến dịch X2”. Mở đầu, ôngNguyễn Văn Trân, phổ biến: “Sau chiến thắng, chúngta phải tiếp tục đưa cách mạngMiền Nam đi lên. Trước khi tiến hành cách mạngxã hội chủ nghĩa, ta phải xác định tồn tại tronggiai đoạn cách mạngdân tộc dân chủ là phải đấu tranh xoá bỏ giai cấp tư sản, giai cấp bóc lột, trước hết là giai cấp tư sản mại bản. Chúng ta đã khẳng định đối tượng của cách mạng như trên thì không bao giờ có ý kiến khác”. Bí Thư Đảng ủy Đặc biệt Võ Văn Kiệt nói thêm: “Bộ Chính trị đã nhất trí với Trung ương Cục và chỉ đạo chúng ta đánh dứt điểm tư sản mại bản như anh Trân đã trình bày. Bộ Chính trị chỉ thị cho chúng ta thêm: Phải đánh và đánh sớm”. Chủ trì buổi làm việc, Phó Bí thư Trung ươngCục Nguyễn Văn Linh, kết luận: “Bước sanggiai đoạn mới tiến lên chủ nghĩa xã hội, chúngta phải thanh toán hết giai cấp tư sản. Có nhiều cách thanh toán giai cấp tư sản và nhiều lý do: phải đi vào nhiệm vụ mới, do sự cấp bách phải ổn định tình hình đời sống nhân dân, ổn định sản xuất. Trước mắt phải đánh vào toàn bộ giai cấp tư sản mại bản. Đối với giai cấp tư sản thường [tư sản dân tộc], thì ta có biện pháp để họ làm ăn nhưng phải cải tạo họ. Đợt đầu ta tập trung đánh một số, 60 tên, nhưng cần nghiên cứu sắc lại hơn nữa. Cần nắm đầu sỏ trực tiếp các ngành quan trọng vì nếu không đánh nó sẽ tác động thị trường. Nói đánh 60 tên nhưngthực tế sẽ lan ra cả ngàn tên” (Biên bản cuộc làm việc giữa Thườngvụ TrungươngCục với Thành ủy Sài Gòn-Gia Định ngày 1-9-1975).

398 Trả lời phỏngvấn tác giả ngày 17-12-2004. 399 Bộ trưởngKế hoạch và Đầu tư 1992-1997. 400 Trả lời phỏngvấn tác giả năm 2004.

401 Phó Chủ tịch Hội đồngBộ trưởng1982-1985. 402 Trả lời phỏngvấn tác giả năm 2004.

403 Theo ôngTrần Phương: “Trongmột dịp nghỉ dưỡngbệnh dài ngày, Đại tướngVõ Nguyên Giáp đề nghị tôi giúp ônghiểu lại toàn bộ hệ thốngkinh tế học của Marxtrongbộ Tư Bản mà trước đó ôngđã

đọc. Từ đó, tôi dành một tuần hai buổi lên nhà ông để trình bày có hệ thống từ quyển I cho đến quyển IV, thời gian ‘giảng dạy’ kéo dài khoảng sáu tháng. Sau đó, ông Giáp có giới thiệu với ông Phạm văn Đồng nên ông Đồng lại mời tôi mở lớp. Lê Duẩn thì khác, ông không yêu cầu tôi giảng giải, ông muốn tự đọc. Chỗ nào cần thì ông trao đổi trực tiếp với tôi. Trên cơ sở đó, nhiều khi ông còn đi giảng giải ở trường Nguyễn Ái Quốc, ở các cơ quan về các tư tưởngkinh tế của Marx” (ĐặngPhong, Tư Duy Kinh Tế Việt Nam, Nhà Xuất bản Tri Thức 2008, trang20).

404 Trả lời phỏngvấn tác giả. 405 Nhân Dân, 1-6-1958.

406 Năm 1945, mặc dù ở Hà Nội, Liên Xô có đại diện, nhưng người của Stalin chỉ đến gặp Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để tìm hiểu về những công dân Liên Xô trong quân đội Pháp-Nhật chứ

khôngcó cuộc gặp gỡ ngoại giao nào. Điện của Hồ Chí Minh gửi Stalin năm 1945 cũngkhônghề được ôngta trả lời. Năm 1947, trongmột chuyến thăm Châu Âu, Phạm Ngọc Thạch tìm cách liên lạc với Liên Xô và đã gặp được đại diện Liên Xô tại Thụy Sĩ. Tháng 12-1947, ông Thạch gửi thư đề nghị giúp đỡ tới Moscow. Nhưng ông đã phải về tay không. Đầu năm 1948, Hoàng Văn Hoan, một nhà lãnh đạo từng gắn bó với Hồ Chí Minh từ thập niên 1920, cũngtừ TrungQuốc đến Thái Lan, sử dụngcác mối quan hệ trongBan Cán sự Hải ngoại của Đảngđể liên lạc với các quốc gia cộngsản nhưngcũngkhôngđạt kết quả.

407 Theo Trần Dân Tiên, NhữngMẩu Chuyện về Đời Hoạt ĐộngCủa Hồ Chủ Tịch, xuất bản năm 1948. 408 C.E.Goscha, 2006.

409 Năm 1924, trong”Thư gửi đồngchí Pêtrôp, Tổngthư ký ĐôngPhươngBộ”, Nguyễn Tất Thành, khi ấy đã lấy tên Nguyễn Ái Quốc, viết: “Đấu tranh giai cấp ở phươngĐôngkhônggiốngPhươngTây,

chủ nghĩa Marx xây dựng cơ sở lịch sử của mình ở châu Âu, mà châu Âu không phải là toàn thế giới”. Nguyễn Ái Quốc cũng đề nghị: “Cần bổ sung chủ nghĩa dân tộc, một động lực của lòng yêu nước, vào chủ nghĩa Mác”. Nguyễn Ái Quốc khi đó chủ trương”đoàn kết các tầnglớp yêu nước, tiến hành chốngđế quốc trước – để giải phóngdân tộc; đồngthời hạn chế sự bóc lột của phongkiến, thành lập chính quyền cộng hòa dân chủ nhân dân, thay vì lập chính phủ chuyên chính vô sản”. Những ý kiến trên đây của Nguyễn Ái Quốc trái với những luận điểm của Quốc tế Cộng sản, đứng đầu là Stalin. Hậu quả là ông đã bị Stalin “hạn chế giao lưu với các đối tượng khác”. Năm 1925, khi Nguyễn Ái Quốc trở về Châu Á, Quốc tế Cộng sản đã không cấp cho ông giấy giới thiệu với Đảng Cộng sản Trung Quốc, với Quốc dân Đảng của Tôn Dật Tiên, khôngcungcấp tài chính để ôngđi đườngvà sinh sống.

410 Ngày 14-7-1949, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 78/SL, buộc “Các chủ điền phải giảm tô cho tá điền từ 25% đến 35%; lấy ruộng đất của điền chủ người Pháp và người Việt bị ghép tội Việt gian chia cho nôngdân”. Ngày 22-5-1950, ôngký Sắc lệnh số 89/SL: “Xóa bỏ hợp đồngvay nợ giữa chủ điền và tá điền trước 1945, nếu món nợ sau 1945 thì chỉ phải trả vốn mà khôngphải trả lãi”. Ngày 20-4-1953, ký “Sắc lệnh Giảm tô”, bằngcách “Giảm thêm giá thuê đất 25%, để tổngsố phí tổn của tá điền khôngquá 1/3 hoa lợi”.

411 Báo cáo của Hồ Chí Minh xác định: “Mục đích cải cách ruộngđất là: tiêu diệt chế độ phongkiến chiếm hữu ruộngđất, giải phóngnôngdân, thực hiện người cày có ruộng, bồi dưỡngnôngdân, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến. Phương châm là: làm cho nông dân tự giác tự nguyện đấu tranh giành lại quyền lợi của mình, dùng lực lượng nông dân để giải phóng nông dân. Phương pháp là: phóng tay phát động quần chúng nông dân; tổ chức giáo dục và lãnh đạo quần chúng nông dân đấu tranh. Phải dựa hẳn vào quần chúng nông dân, đi đúng đường lối quần chúng. Tuyệt đối chớ dùng cách ép buộc, mệnh lệnh, bao biện, làm thay. Đường lối chính sách chung là: dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông; tiêu diệt chế độ bóc lột phong kiến từng bước và có phân biệt. Phát triển sản xuất, đẩy mạnh khángchiến¼”.

412 Trong Nội San Cải Cách Ruộng Đất số ra ngày 25-2-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nhục hình là lối dã man, là cách của đế quốc, tư bản, phong kiến, nó dùng để trị quần chúng, trị cách mạng. Chúng ta có cuộc sống đúng, có lý lẽ đúng, có lực lượng mạnh, sao mà còn phải làm một cách dã man? Dùng nhục hình là chưa tẩy sạch tư tưởng dã man, đầu óc phong kiến đế quốc. Phải dùng nhục hình là vì không chịu khó phát động quần chúng. Vì vậy tuyệt đối không được dùng nhục hình, nếu dùng nhục hình là trái chính sách của Đảng, của Chính phủ, trái tác phong của cách mạng¼ Đánh người ta đau quá thì không có người ta cũng phải nhận là có. Như thế là cán bộ đã tự mình lừa mình. Từ nay các cô, các chú phải kiên quyết sửa chữa khuyết điểm này”. Tháng 10-1956, Bộ Chính trị thừa nhận: “Do tư tưởng chỉ đạo tả khuynh, tác phong đại khái, quan liêu, độc đoán, trấn áp, cho nên việc đánh địch càng đi tới càng mất phương hướng, đánh tràn lan, đánh vào địch và đánh cả vào hàng ngũ của ta, quy bức nhục hình phổ biến¼ Coi tổ chức của Đảng, coi tổ chức cũ của chính quyền và của quần chúng là do địch lũng đoạn, nên đã khủng bố tàn khốc những người nông dân vô tội, đả kích mù quáng vào đảng viên và cán bộ cốt cán

của Đảng, chính quyền và đoàn thể quần chúng”.

413 Báo cáo của Bộ Chính trị năm 1956 kết luận: “Do phương châm và phương pháp đều sai lầm, truy bức và nhục hình phổ biến, nên trong việc chỉnh đốn chi bộ, đã đả kích tràn lan vào nội bộ Đảng, giải tán chi bộ bừa bãi, bắt bớ và xử trí cả những đảng viên tốt, xử bắn lầm một số bí thư chi bộ hay chi ủy viên có nhiều công lao với Đảng. Trong số 8.829 đảng viên bị xử trí ở Tả Ngạn thì 7.000 thuộc thành phần nông dân lao động và thành phần lao động khác. Ở Hà Tĩnh thì hầu hết các chi bộ xã bị kết luận sai là do phản động lũng đoạn. Có nơi chi bộ nào tốt nhất thì bị đàn áp nặng nhất, đảng viên nào tốt nhất thì bị xử trí nặng nhất. Nhiều chi bộ có công lớn trong kháng chiến đã bị coi là chi bộ phản động, bí thư và chi ủy viên bị hình phạt: tù hoặc bắn”. Báo cáo năm 1956 của Bộ Chính trị viết tiếp: “Chỉnh đốn trên thực tế là một cuộc trấn áp dữ dội bằng những thủ đoạn tàn khốc và trên một quy mô lớn đối với tổ chức Đảng ta ở nông thôn. Ở cấp huyện và tỉnh, tổng số bị xử trí là 720 cán bộ và nhân viên, tỷ lệ là 21%. Nhưng nếu lấy cán bộ từ cấp ty trở lên thì tổng cộng có 284 người, số bị xử trí lên 105 người. Tỉnh uỷ viên tại chức dự chỉnh đốn 36 người, thì bị xử trí 19 người, tỉnh uỷ viên cũ dự chỉnh đốn là 61 người thì bị xử trí 26 người, ủy viên ủy ban hành chính tỉnh dự chỉnh đốn 17 người thì bị xử trí 15 người. RiêngHà Tĩnh, trong19 tỉnh uỷ viên, côngan hoặc huyện đội thì tất cả bị quy là phản động, gần đây kiểm tra lại thì nhận thấy tất cả đều bị quy sai. Hàng vạn đảng viên tốt bị thanh trừng, hàng nghìn bị bắt, một số đảng viên có nhiều công lao bị xử oan, phải chịu những nhục hình rất tàn khốc dã man¼ dùng quần chúng để vạch tội đảng viên cũ, dùng truy bức nhục hình đối với đảng viên, giao cho cán bộ của đội không phải là đảng viên làm nhiệm vụ xử trí đảng viên¼, sai lầm nghiêm trọng và vô nguyên tắc, vi phạm những quyền tự do cá nhân của người côngdân, đem phươngpháp đấu tranh với kẻ địch mà tiến hành đấu tranh trongnội bộ¼”.

414 Trongthời hạn đình chiến 300 ngày để hai miền chuyển quân theo Hiệp định Geneve, khoảng140.000 bộ đội và cán bộ cộngsản và gia đình đã tập kết ra Bắc; chỉ có 4.358 dân thườnghồi cư, một số là phu đồn điền gốc Bắc vào Nam đã lâu, một số mới di cư vào tới nơi thì đổi ý¼ Trongkhi đó, theo thốngkê của Phủ Tổngủy Di cư Tị nạn của Chính quyền Sài Gòn, có tới 950.000 người dân miền Bắc di cư vào Nam: 871.533 người đi trước ngày 19-5-1955; 3.945 người đi trong thời gian gia hạn; 76.000 người khác đã dùng thuyền hoặc đi đường bộ xuyên rừng qua Lào để vào Nam sau khi thời hạn tự do đi lại giữa hai miền chấm dứt.

415 Khi ấy là chuyên viên của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước.

416 Hội nghị quốc tế lần thứ II, còn gọi là “Hội nghị 81 đảng”, họp vào tháng11-1960. Đoàn Việt Nam do Bí thư thứ Nhất Lê Duẩn dẫn đầu đến Moscow. Sau khi ôngtrở về, báo Nhân Dân ngày 7-12-1960

đăng xã luận: “Trong ba năm qua, Đảng ta luôn luôn tỏ ra tuyệt đối trung thành với Bản tuyên bố năm 1957. Từ nay về sau, cũng như đối với Bản tuyên bố năm 1957 trước đây, Đảng ta nguyện triệt để ủng hộ và tuân theo bản tuyên bố mới, coi đó là vũ khí sắc bén của mình để tăngcườnglực lươngvề mọi mặt, và tiến lên giành nhữngthắnglợi mới”.

417 ĐặngPhong, 2008, trang51.

418 Như HoàngTùng, Trần Quỳnh, Đào Duy Tùng, Nguyễn Cơ Thạch, Đoàn TrọngTruyến, Nguyễn Đức Bình, nguyễn Khánh, Nguyễn Vịnh, Trần Quỳnh, Trần Phương, Đậu Ngọc Xuân,¼ 419 Nguyễn Thụy Nga, 2000, trang44.

420 Nguyễn Thuỵ Nga, 2000, trang41-42. 421 Sđd, trang42. 422 Sđd, trang43.

423 Nguyễn Thụy Nga, 2000, trang63.

424 Ông Năm Hoành bị kết án tám năm tù, bị đưa đến một nhà lao dã chiến ở Pleiku. Nhưng chỉ mấy tháng sau, ông cùng gần 100 người tù khác vượt trại, trốn thoát sang Campuchia. Năm Hoành ở lại

Campuchia cho đến năm 1963. Tại đây, ôngbiết tin Lê Duẩn đã an toàn ra Bắc. Năm 1964, khi đangở căn cứ TrungươngCục, Năm Hoành nhận được một bức điện của “anh Ba” Lê Duẩn: “Anh rất mừngđược tin chú thoát khỏi trại giam của giặc và chiến thắngtrở về. Mongchú mau hồi phục sức khỏe để côngtác tốt” (Tổngtập Lê Duẩn, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002, trang925). Tháng6-1971, Năm Hoành được đưa ra Bắc, chỉ vài hôm sau khi ông về nhà khách K5B ở Quảng Bá, ông Lê Duẩn cho xe đến đón về nhà riêng ở số 6 Hoàng Diệu, ông Năm Hoành kể: “Tôi vừa đẩy cổng bước vào thì anh Ba ôm chầm lấy tôi, nói, ‘Chú còn sống! Thế mà khi chú bị bắt anh cứ nghĩ là chúngsẽ giết chú” (trang926).

425 Ủy viên TrungươngKhóa III.

426 Trongthập niên 1990 là phó bí thư thườngtrực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.

427 Ngày 15-5-1955, bà Lê Thị Sươngviết thư cho bà Nga: “Thân gửi dì Nga! Trongnăm có nhận được thư dì và cậu cháu Hãn (tức ôngLê Duẩn), vì một phần trongngười ốm đau, một phần bực một vài ý

kiến trong thư dì, nên cậu (cha ông Lê Duẩn) và tôi cũng có ý trách dì. Nhưng hôm nay nhận được thư dì và chị Ái, thấy dì đã nhận được lỗi lầm. Và chị Ái cũng nói hộ thêm, vì hoàn cảnh lợi ích cách mạng mà đoàn thể đặt vấn đề, tôi và cậu lấy làm thương dì lắm. Tôi rất cảm ơn dì đã tích cực giúp đỡ cậu cháu Hãn trong khi xa gia đình, xa tôi. Hôm nay cậu cũng nhận dì là người trong gia đình và tôi thành thật xem dì như một người em, dì đừngthắc mắc nữa mà tổn hao sức khỏe” (Nguyễn Thụy Nga, trang76).

428 Nguyễn Thuỵ Nga, 2000, trang83. 429 Sđd, trang86. 430 Sđd, trang127. 431 Sđd, trang132.

432 Nguyễn Thuỵ Nga, 2000, trang132.

433 Stalin là nhân vật mà Lenin đã nhiều lần tỏ ra quan ngại nếu quyền lãnh đạo Đảng rơi vào tay ông ta. Nhưng, khi Lenin mất, Trosky thì đang đi xa. Ở Moscow, Stalin bí mật chuẩn bị tang lễ và chuẩn bị

một bài diễn văn mà khi đọc lên đã khiến cho côngchúngnghĩ Stalin chính là người mà Lenin gửi gắm.

434 Giáo sư Trần Phương, khi trả lời phỏng vấn tác giả, đã cho rằng: “Những quyết định của ông Lê Duẩn cho dù hậu thế đánh giá thế nào thì cũng đều là những cố gắng sáng tạo từ sự nung nấu trong tư duy, là nhữngsản phẩm của một bộ óc luôn luôn trăn trở, đầy trách nhiệm, đầy lo toan cho lợi ích của Đảng, của nước, và của dân”.

435 Theo Giáo sư Trần Phương: “Nghị quyết Đại hội IV đã được anh Lê Duẩn chuẩn bị từ năm 1969. Trong vòng gần một năm trời, anh Lê Duẩn đã tập hợp một số chuyên gia như Hoàng Tùng, Trần Quỳnh, tôi, Đậu Ngọc Xuân, Đống Ngạc, Đào Duy Tùng, Nguyễn Khánh và có lúc xuất hiện Nguyễn Đức Bình, rồi đưa xuống Đồ Sơn. Tại đây, anh Lê Duẩn phác ra ý tưởng, bọn này chất vấn, thảo luận hoặc đồng tình. Khi viết gần xong, anh bảo: “Khoan đã, chờ kết thúc cuộc chiến thế nào đã”. Việc chuẩn bị vì thế tạm ngưng vào năm 1970. Đến 1973-1974 công việc lại được khởi động lại, đến năm 1975 thì hoàn chỉnh”.

436 Lược ghi phát biểu của Lê Duẩn tại Hội nghị Trungương25, Văn Kiện Đảngtoàn tập, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, tập 37-1976, trang350.

437 “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kĩ thuật, cách mạng

văn hóa tư tưởng, trongđó cách mạngkhoa học kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh côngnghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trungtâm của cả thời kỳ quá độ¼”.

438 “Một nước nhỏ, đánh với một đế quốc to, giàu mạnh và ngoan cố, cầm đầu phe đế quốc như Mỹ, [lại] trong điều kiện phe ta mất đoàn kết nghiêm trọng, mà đã giành được thắng lợi hoàn toàn, trọn vẹn và triệt để thì thật lạ lùng. Thắng lợi vĩ đại của ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là một điều hết sức bất ngờ với kẻ thù. Thế giới khâm phục và ngạc nhiên lắm” (Văn Kiện Đảng Toàn Tập, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, tập 36-1976, trang334).

439 Phát biểu của Lê Duẩn, Văn Kiện ĐảngToàn Tập, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, tập 37-1976, trang379.

440 Khẩu hiệu của Tỉnh Nghệ Tĩnh 441 Tỉnh ghép: Nghệ An-Hà Tĩnh.

442 Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý, tác giả của các bài “địa phươngca” được đưa đến Quỳnh Lưu để viết một ca khúc mà cuối thập niên 1970, gần như trên hệ thốngphát thanh, ngày nào cũngđược cặp songca

tài danh Kiều Hưng-Thu Hiền hát đi hát lại: “Ai đi qua Nghệ Tĩnh / Mà khôngdừngQuỳnh Lưu / Đời hôm nay rộngmở / Xa bát ngát chân trời / Mảnh vườn xưa ngăn chia / Đèn nhà ai nấy rạng/ Ruộngđồngxưa phân chia / Chắn tầm xa phóngkhoáng¼”.

443 Giáo sư Phạm Như Cươngkể: “Tư tưởnglàm chủ tập thể¼ được sử dụngnhư một rườngcột cho mọi quan hệ chính trị và xã hội. Đích thân anh Ba đã có nhiều buổi trình bày về tư tưởngđó ở trường Nguyễn Ái Quốc, ở Học viện Chính trị Trung-Cao¼Các ‘cây lý luận’ đươngthời đều được phân côngđi giảngbài, viết bài để phổ biến tư tưởngđó. Riêngở Viện Triết học thì chúngtôi khôngtích cực lắm¼ Tôi biết rằng hình như Tổng Bí thư không được vui khi thấy một tư tưởng lớn mà ông rất tâm đắc như thế mà tôi và viện triết lại không tích cực hưởng ứng, không chịu triển khai nghiên cứu. Nhưng anh Lê Duẩn là người độ lượng, không có tiểu khí, không hay có thành kiến cá nhân,¼ nếu có ai không đồng tình với anh thì tuy không vui, nhưng anh không thù ghét, trù dập. Có một lần nhân tôi lên làm việc với anh Trường Chinh, anh TrườngChinh cũnghỏi tôi về khái niệm làm chủ tập thể của đại đội IV. Tôi thưa với anh TrườngChinh rằngvề vấn đề này báo chí cũngnhư các đoàn cán bộ của Trungươngđã trình bày rất nhiều và đầy đủ lắm rồi. Tôi đã trình bày thẳngthắn với anh rằngtheo tôi nếu nhìn từ lý luận triết học thì có lẽ nhữngcách giải thích hiện nay vẫn chưa rõ ràng. Anh TrườngChinh gật đầu và im lặng¼Tôi hiểu rằngcó lẽ chính anh TrườngChinh cũngbăn khoăn như tôi” (ĐặngPhong, 2008, trang81-82). Triết gia Trần Đức Thảo cũngtừngđược ôngLê Duẩn gọi đến để tìm sự chia sẻ “tư tưởng lớn” này. Giáo sư Trần Đức Thảo nhớ lại: Một lần ở Hà Nội, tôi đangđạp xe đi chợ, bỗngcó xe ô tô xịch đến bảo tôi lên xe ngay để đi gặp TổngBí thư Lê Duẩn. Tôi ngạc nhiên lắm, nhưngcũngphải tuân lệnh lên xe đi theo anh em, mà chưa rõ có việc gì. Chiếc xe đạp của tôi có người nhận và hứa sẽ đem về tận nhà cho tôi. Đến nhà TổngBí thư, được ôngtiếp đón rất trân trọng. Ôngnói rằngôngmuốn trình bày cho tôi nghe một tư tưởngtriết học lớn của ônglà tư tưởnglàm chủ tập thế. Tôi lễ phép lắngnghe. Sau khoảng2 giờ liền, ôngnói say sưa, tôi chỉ im lặng, khôngdám hỏi han gì. Sau cùng, ôngthấy nói mãi mà chẳngthấy tôi khen chê gì cả, ôngphải nhắc tôi: “Tôi biết anh là một nhà triết học lớn, tôi muốn nghe ý kiến của anh”. Tôi bèn trả lời rất chân thành: “Thưa anh tôi thấy khó hiểu quá, xin nói thật là tôi khônghiểu”. Ôngcó vẻ ngạc nhiên, nhưngvẫn từ tốn hỏi

lại: “Ô hay! Có thật là anh khônghiểu gì không?” Tôi lại thưa: “Thưa anh quả thật là tôi khônghiểu gì cả. Sau đó ôngthất vọngvà bảo tôi đi về”(trang83).

444 “Bài nói của đồngchí Lê Duẩn tại lớp chính trị Trungcao cấp ngày 13-3-1977 tại trườngNguyễn Ái Quốc”, “Hồ sơ lãnh tụ Lê Duẩn”, lưu trữ tại kho Lưu trữ Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh.

445 Năm 1973, sau chín năm xung phong vào chiến trường miền Nam, bà Nguyễn Thụy Nga từ chiến trường Khu IX ra Bắc và nhận thấy ông Lê Duẩn đã yếu đi rất nhiều. Bà Nga kể: “Khi miền Nam giải

phónganh mổ tiền liệt tuyến, suốt ngày phải mangmột túi ni lôngbên hông. Sángnào cũngba, bốn bác sỹ bu quanh làm thuốc. Vậy mà anh đi hết nơi này, nơi khác để tìm hiểu tình hình” (Hồi ký Nguyễn Thụy Nga, Bên Nhau Trọn Đời, bản thảo viết năm 1998, tr 187-188).

446 Theo ôngTrần Việt Phương: Khi Lê Duẩn sangdự Đại hội Đảngcộngsản Liên Xô, Brejenev kể với ôngrằngđể chuẩn bị cho Đại hội, Liên Xô phải huy động hàng trăm viện nghiên cứu, hàng nghìn nhà khoa học của nhiều lĩnh vực khác nhau. Lê Duẩn liền nói với Brejenev: “còn tôi, tôi chỉ cần mấy chú thư ký thôi”. Một trợ lý của Lê Duẩn, ông Trần Quỳnh, viết trong hồi ký: “Lê Duẩn là người tự mình suy nghĩ lấy nhữngvấn đề cần giải quyết, chả bao giờ nghe ý kiến của người khác, tự bản thân Lê Duẩn thể nghiệm sự đúngđắn của nhữngnhữngý kiến đó… Khi nói chuyện tay đôi với tôi, Lê Duẩn thườngcoi tôi là một đối tượngnghe giùm, để định hình ý nghĩ của mình, chứ khôngphải là người mà Lê Duẩn cần nghe ý kiến”.

447 Bí thư TrungươngĐảngKhóa VI, viện trưởngViện Quản lý Kinh tế Trungương1977-1987. 448 Tổngtập Lê Duẩn, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002, trang40.

449 Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 25, Lê Duẩn nói: “Stalin vốn là người trung thực, khiêm tốn, đọc tài liệu ta thấy trước đây đồng chí ra đứng tận cổng đón từng đồng chí ủy viên Bộ Chính trị tới họp

hoặc tới gặp gỡ đồngchí, thế mà vào cuối đời mình vẫn phạm sai lầm. Vì vậy, cần phải có một cơ cấu bảo đảm làm chủ tập thể, khôngđể một cá nhân nào đó chen vào, trồi lên, độc đoán, chuyên quyền. Thế giới có những kinh nghiệm phức tạp, có hiện tượng đảng là một người. Đảng là tôi, nhà nước là tôi. Ta cần rút kinh nghiệm để tránh” (Phát biểu của Lê Duẩn, Văn Kiện Đảng Toàn tập, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, tập 37-1976, trang403).

450 Phát biểu trước Hội nghị Trungương25, Bí thư Lê Duẩn nói: “Triều Tiên làm rất găngtrongviệc phát huy sức lao động. Ta cũngphải làm thế nhưngphải phát huy tính tự giác của nhân dân hơn. Trong làm chủ tập thể, có cái tự nguyện, có cái phải thuyết phục, có cái phải bắt buộc” (Phát biểu của Lê Duẩn tại Hội nghị Trungương25, Văn Kiện ĐảngToàn tập, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, tập 37-1976, tr 361).

451 Phát biểu của Lê Duẩn tại Hội nghị Trungương25, Văn Kiện ĐảngToàn tập, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, tập 37-1976, trang403-404. 452 Sài Gòn Giải Phóng, 24-3-1978.

453 Một biến cố khác xảy ra trongnhữngngày đó đã manglại cho ôngSơn cả “rủi” lẫn “may”. Năm 1978, Văn phòngTrung ương Đảng vào tiếp quản An Phú, nhà ông Huỳnh Bửu Sơn nằm trong phạm vi

bị trưng dụng. Sau khi vợ ông Lê Quang Uyển đi Pháp, ngôi biệt thự của ông Uyển, khi ấy đang đi “học tập”, được T78 lấy làm nơi ở cho ông Nguyễn Văn Linh. Ông Huỳnh Bửu Sơn được đổi sang chỗ mới là một căn nhà trên đường Phạm Văn Hai, bản thân ông thì được chiếu cố cho về làm việc ở Ngân hàng Nhà nước Thành phố. Ở đây, ông may mắn được làm việc với ông Lữ Minh Châu, một “Việt Cộng” đã từng làm nhân viên ngân hàngở Sài Gòn trước 30-4 nên hiểu nănglực và tâm tư của nhữngchuyên viên cũ.

454 Phó Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh 1975-1979.

455 Báo Sài Gòn Giải Phóngngày 15-2-1978 viết: “Thể theo nguyện vọngcủa đôngđảo nhân dân lao động, từ ngày 1-12-1977, Thành phố ta đã mở đợt chốnggian thươngvà đã thu được nhiều thắnglợi tốt

đẹp¼ Ta đã tóm cổ nhiều tên chủ vựa cá ác ôn, tịch thu trên mười tấn cá đồngvà cá biển; tóm gọn nhiều chủ vựa rau, nhiều lái rau đườngdài chở rau Đà Lạt về TP¼ Chỉ tronghai tuần lễ giáp tết, từ 23-1 đến 6- 2-1978, ta đã bắt trên sáu mươi vụ gian thương¼ Nhân dân và lực lượngkiểm soát kinh tế các quận, huyện, đã xóa bỏ hàngchục vựa giết mổ heo lậu, trongđó có nhiều lò mổ lớn như ở Xa Cảngmiền Tây, Bình Thạnh, Gò Vấp¼ Về mặt hàngchất đốt, ta đã xóa được một số vựa củi ở Quận 11, chặn bắt nhiều xe chở củi lậu ở Quận 10, ngăn chặn được một bước hoạt độngcủa bọn gian thươngchất đốt trongdịp tết”.

456 Sài Gòn Giải Phóng, 17-4-1978.

457 70% số đầu máy bị xếp xó vì hư hỏng, phụ tùng thay thế không có; khoảng 1,8 triệu hecta trong số bảy triệu hecta đất bị bỏ hoang. Năm 1976, sản lượng lúa cả nước đạt 11,8 triệu tấn. Năm 1980, sau

một “kế hoạch 5 năm”, sản lượnglúa chỉ còn 11,6 triệu tấn. Tưởngsẽ có lươngthực dư thừa cho xuất khẩu, năm 1980, Việt Nam phải nhập khẩu lươngthực nhiều nhất tronglịch sử: 1.570.000 tấn. Về thủy sản, năm 1980 cũngchỉ đánh bắt được 500 nghìn tấn cá biển, thua xa kế hoạch và thấp hơn sản lượngđánh bắt của năm 1976, 600 nghìn tấn.

458 Phó giám đốc sở kiêm giám đốc côngty Lươngthực Thành phố Hồ Chí Minh 1978-1991. 459 Chuyện kể về chị Ba Thi, Ban tuyên giáo tỉnh ủy Cửu Longxuất bản năm 1992.

460 Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 4-1-1978, của Bộ chính trị: “Giá thu mua thóc tính theo tiền miền Bắc trong tình hình hiện nay ở các vùng như sau: Vùng 1: giá mua 0,32 đ/1kg, ở những nơi điều kiện

sản xuất có khó khăn hơn là 0,35đ/1kg; Vùng 2: giá mua 0,40 đ/1kg, ở những nơi chưa có công trình thủy lợi là 0,43đ/1kg¼ Giá mua 1 kg lợn thịt ở các tỉnh miền bắc tương đương với giá mua từ 7-7,5kg thóc. Ở các tỉnh miền Nam: giá 1 kglợn thịt là 3 đồng; gạo 0,40đ/1kgtiền miền Bắc; thịt lớn xô 2,50đ/1kgtiền miền Bắc” (Văn Kiện ĐảngToàn Tập, tập 38-1978, trang10-11).

461 Theo ông Đỗ Phượng, tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam: “Giữa tháng 4-1978, anh Nguyễn Duy Trinh phải thay mặt Ban Bí Thư điện yêu cầu các tỉnh Hải Dương, Thái Bình, Hà Nam Ninh, Hà Sơn Bình, Hà Bắc nỗ lực cungứnglươngthực cho Hà Nội, sao sớm có được một nửa khẩu phần gạo hoặc tối thiểu được khoảng40% gạo trongkhẩu phần lươngthực. Điện nói rõ tháng3-1978, Thủ đô chỉ được 30% gạo trong khẩu phần lương thực và sang tháng 4-1978 dân Hà Nội sẽ không còn được như tháng 3, trong khi các thực phẩm thông thường như rau, đậu phụ, mỡ, cá cũng không đủ để bán theo tem phiếu” (Đỗ Phượng, Chuyện Thời Bao cấp, Nhà Xuất bản ThôngTấn 2011, trang9-10).

462 Đỗ Phượng, Chuyện Thời Bao cấp, Nhà Xuất bản ThôngTấn 2011, trang9-10. 463 Đinh Thị Vận, Chuyện Thời Bao cấp, Nhà Xuất bản ThôngTấn 2011, trang(?).

464 Tiến sỹ Nguyễn Văn Huy, Chuyện Thời Bao cấp, Nhà Xuất bản ThôngTấn 2011, trang21-22. 465 Thu Hà, Chuyện thời Bao cấp, Nhà Xuất bản ThôngTấn 2011, trang21-22.

466 Chuyện của cựu trung tá công an Phùng Duy Mận, ngụ tại nhà 123 Hàng Buồm: Thời đó, ông được phân phối đôi dép nhựa Tiền Phong, đi không vừa nhưng cũng không dám bán cho “con phe” sợ

mangtiếng. Phải khi vào Huế côngtác ôngmới đem bán được năm nghìn rưỡi, đủ mua một vé máy bay, giá bao cấp, ra Bắc (Chuyện Thời Bao cấp, Nhà Xuất bản ThôngTấn 2011, trang?).

467 Chuyện của ôngLê Gia Thụy, nhà số 8, ngách 12/21, ngõ 12, phố LươngKhánh Thiện, chủ nhân của chiếc xe đạp ThốngNhất trưngbày tại Triển lãm Thời Bao cấp diễn ra tại Bảo tàngDân tộc học.

468 Cho đến năm 1978, mỗi khi đi công tác, ông Trần Thắng, Đoàn 871, Tổng Cục Chính trị, phải làm “giấy ủy quyền” cho vợ là chị Nguyễn Thị Sinh thì chị Sinh mới được dùng cái đài National đứng tên

anh. Để có pin, Ban đại diện tiểu khu nơi anh chị cư trú còn phải chứng nhận anh chị là vợ chồng thì Công ty Bách hóa thành phố mới bán pin cho chị Sinh (Chuyện Thời Bao cấp, Nhà Xuất bản Thông Tấn 2011, trang?).

469 Đầu thập niên 1980 là hiệu trưởngĐại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. 470 Nay là đườngPhạm Ngọc Thạch.

471 Đỗ Phượng, Chuyện Thời Bao cấp, Nhà Xuất bản ThôngTấn 2011, trang10. 472 La Lâm Gia.

473 Bà Ba Thi Nguyễn Thị Ráo cùng quê Vĩnh Long với ông Võ Văn Kiệt và ông Phạm Hùng, tham gia cách mạng khi còn thiếu niên, có nhiều năm hoạt động dưới quyền ông Nguyễn Văn Linh, và đã từng

gặp gỡ ôngLê Duẩn thời khángPháp. Chồngbà Ba Thi, ôngNguyễn TrọngTuyển, bí thư Tỉnh ủy Gia Định, chết vào tháng7-1959, trên đườngra cứ đón Trần Bạch Đằng, đặc phái viên Xứ ủy, để tiếp thu Nghị quyết 15. Bà Ba Thi chính là người phụ nữ cười rất tươi trong tấm ảnh chụp bốn người thuộc “Phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam” ra thăm miền Bắc và “được gặp Bác Hồ” vào ngày 5-3-1969. Bà từngđược gọi là “tư lệnh sân bay Lộc Ninh” do vai trò khá nổi bật của mình trong”ban đón tiếp tù binh” của Mặt trận sau Hiệp định Paris.

474 Nguyễn Thành Thơ, Cuối Đời Nhìn Lại, Bản thảo năm 2004.

475 Chuyện Kể Về Chị Ba Thi, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cửu Long, 1992, trang117. 476 Theo ôngPhạm Văn Hùngthư ký riêngcủa ôngVõ Văn Kiệt.

477 Nghị quyết Trung ương 6 phê phán cung cách xây dựng kế hoạch tập trung quan liêu, thiếu căn cứ thực tế và khoa học; trì trệ bảo thủ trong xây dựng những chính sách cụ thể; nóng vội, giản đơn trong

công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam; chưa chú ý sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế cá thể và tư sản dân tộc ở miền Nam; “khuynh hướng tả khuynh”, muốn sớm đưa cá thể vào hợp tác xã, đưa hợp tác xã lên quốc doanh; phê phán cách làm coi thị trườnglà bất hợp pháp.

478 Văn kiện Đại hội II Thành phố Hồ Chí Minh, lưu trữ tại Thư viện Ban Nghiên cứu Lịch sử ĐảngThành phố. 479 Báo Sài Gòn Giải Phóng, 1-12-1980.

480 Ngày 21-1-1981, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 25-CP công nhận điều mà ông Võ Văn Kiệt đã cho phép các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh làm từ cuối năm 1978. Quyết định

25-CP bắt đầu cho phép áp dụngchế độ ba kế hoạch: kế hoạch “chỉ tiêu pháp lệnh” do Trungươnggiao, kế hoạch liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau nhằm thực hiện kế hoạch thứ nhất, kế hoạch do xí nghiệp tự xây dựng. Như vậy, Quyết định 25-CP có thể hiểu là đã “hợp pháp hóa” sự liên kết giữa các đơn vị kinh doanh, điều mà trước đó có thể bị bỏ tù vì bị coi là “móc ngoặc”.

481 Tuổi Trẻ, 19-4-2009.

482 ĐặngPhong, 2009, trang174.

483 Ngày 6-11-1968, Chủ tịch Quốc hội TrườngChinh về Vĩnh Phú, yêu cầu tổ chức một cuộc họp Tỉnh ủy mở rộng; tại đây, ôngđã đọc một bài phát biểu, phê phán Vĩnh Phú: “Trongmột thời gian dài đã

không thấu suốt tinh thần đấu tranh triệt để giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, giữa hai phương thức lao động tập thể và lao động cá thể ở nông thôn. Cán bộ và quần chúng nông dân hiểu biết vấn đề hợp tác hóa nôngnghiệp một cách nôngcạn và đơn giản¼ nên khi vận dụngvào hoàn cảnh của địa phươngđã đi chệch sangphươngthức sản xuất cá thể, chuyển một phần tư liệu sản xuất của hợp tác xã cho các hộ xã viên, khôi phục dần cách làm ăn riêng lẽ” (Tạp chí Học Tập tháng 2-1969, trang 19). Ngày 12-12-1968, Ban Bí thư có Thông tri số 224 về việc “chấn chỉnh ba khoán, kiên quyết sửa sai chống khoán hộ”, lập “ban chỉ đạo” huy động lực lượng cán bộ để truyền đạt thông tri của Trung ương và thảo luận bài “Phê phán của đồng chí Trường Chinh”; kiểm tra lại tất cả việc khoán để chấn chỉnh lại. Bí thư Kim Ngọc, sau đó đã phải làm “tự kiểm điểm” đăngtrên Tạp chí Học Tập thể hiện tinh thần “quyết tâm sửa chữa”.

484 Theo ông Nguyễn Văn Tôn: “Sản lượng hoa màu quy ra thóc: năm 1960, đạt 28.520 tấn; năm 1968 lên được 32.782 tấn; năm 1970 xuống còn 25.468 tấn và năm 1975 xuống còn 18.565 tấn” (Đặng Phong, 2009, trang191).

485 Tại TrungQuốc, năm 1962, sau khi chính sách tập thể hóa “Đại nhảy vọt” (từ 1959-1961) làm chết hàngchục triệu người do đói kém (khoảng15-17 triệu người theo số liệu chính thức của TrungQuốc; khoảng45 triệu theo các nhà nghiên cứu nước ngoài, Ezra F. Vogel, trang41), Trần Vân (Chen Yun), một ủy viên Bộ chính trị đặc trách kinh tế đưa ra đề nghị khoán sản phẩm tới hộ cho nôngdân. Đề nghị được Đặng Tiểu Bình ủng hộ nhưng ngay sau đó đã bị Mao Trạch Đông phê phán là “đi theo con đường tư bản”(Ezra F. Vogel, 2011, trang 436). Mao chỉ trích nặng tới mức Trần Vân suy sụp đến nỗi không thể nói trongvài tuần và sau đó phục hồi rất chậm(Ezra F. Vogel, 2011, trang723).

486 ĐặngPhong, 2009, trang197.

487 Theo đề nghị của xã viên, một vài đội của hợp tác xã Tiến Lập, xã Đoàn Xá, huyệnAn Thụy, đã “khoán ruộngcho các hộ”, cứ một sào ruộngkhoán, xã viên phải nộp lại cho hợp tác xã 70kgthóc, tương

đương với sản lượng đạt được khi ruộng vẫn ở trong tay hợp tác. Kết quả, ngay trong vụ mùa thứ nhất, mỗi sào ruộng khoán đã thu được 1,4-1,5 tạ thóc, xã viên kiếm được bảy, tám chục ký thóc một sào. Nhưng, đầu năm 1976, thì chuyện bại lộ, huyện cử cán bộ về thanh tra, Đảng ủy xã Đoàn Xá phải tổ chức kiểm điệm, tự nhận: “Khoán là sai đường lối, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc vận động đưa hợp tác xã lên quy mô toàn xã”.

488 ĐặngPhong, 2009, trang204.

489 Cải cách của Trung Quốc lại thường bắt đầu từ trên xuống, năm 1977 khi Wan Li được điều về Bí thư tỉnh An Huy (Anhui) nạn đói ở đây vẫn còn hoành hành. An Huy là nơi có khoảng từ 3-4 triệu

người chết đói vì “Đại nhảy vọt”. Wan Li đã đưa ra “Đề nghị 6 điểm” theo đó giao khoán sản phẩm đến nhóm nhỏ, thậm chí tới từng cá nhân nông dân, người dân có quyền tự chủ trên ruộng khoán và được bán sản phẩm ra thị trường địa phương. Lúc này chính sách cấm khoán hộ vẫn còn có hiệu lực, “Đề nghị 6 điểm” bị nhiều người phản đối, nhưng Đặng Tiểu Bình người mới trở lại chính trường đã ủng hộ và Wan Li vẫn kiên quyết cho áp dụngvà áp dụngthành côngchính sách khoán ởAn Huy. Năm 1978, mặc dù là người bổ nhiệm Wan Li về làm bí thư An Huy, Thủ tướngHoa Quốc Phongvẫn bảo vệ mô hình hợp tác hóa Dazhai nghĩa là không chấp nhận khoán. Phó thủ tướng phụ trách nông nghiệp Chen Yonggui và người kế vị ông cũng bảo vệ mô hình hợp tác hóa Dazhai. Nhưng cả Đặng và Trần Vân vẫn ủng hộ An Huy. Mãi tới ngày 31-5-1980, sau khi củng cố được quyền bính Đặng mới chính thức công khai ủng hộ chính sách phi tập trung hóa trong nông nghiệp, khoán ruộng cho nông dân tới hộ (Ezra F. Vogel, 2011, trang 436- 440).

490 Nhà báo Thái Duy, có mặt tại Hải Phòng trong thời điểm này, kể: Các đoàn đến Hải Phòng cũng chủ yếu là đi chui, không có giấy giới thiệu, không có công tác phí, Hải Phòng cưu mang hết. Có đoàn ở xa như Nghệ Tĩnh, còn được Hải Phòng cung cấp lương thực, thực phẩm đủ ăn đến khi về tới nhà. Nhiều người ngạc nhiên vì có cả lãnh đạo huyện Thiệu Yên, Thanh Hóa. Thiệu Yên là nơi có hợp tác xã Định Công. Cùng với Vũ Thắng, Thái Bình, Định Công là một trong hai hợp tác xã điển hình toàn quốc. Trong giai đoạn hô hào hợp tác hóa, hàng nghìn đoàn đại biểu từ Nam, chí Bắc đã về “học tập Vũ Thắng, Định Công”. Té ra để có gạo nuôi sốngxã viên và tiếp khách, Định Côngcũngnhư Thiệu Yên đã phải âm thầm cho dân “khoán hộ”.

491 ĐặngPhong, 2009, trang227. 492 Sđd, trang229-230. 493 Sđd, trang231-232.

494 ĐặngPhong, 2009, trang233-234.

495 Năm 1978, trước khi ôngKim Ngọc nghỉ hưu, Thườngvụ Tỉnh ủy Vĩnh Phú cũngđã ra Nghị quyết 15: “Chính thức để các hợp tác xã khoán cho hộ gia đình và cho hộ gia đình mượn một số đất để làm

thêm vụ đông”. Tuy nhiên, như con chim đã từng trúng tên, khoán ở Vĩnh Phú vẫn chỉ được tiến hành hết sức rụt rè. Sau đó không lâu, ông Võ Chí Công, ủy viên Bộ Chính trị, phó Thủ tướng phụ trách nông nghiệp đã về Thổ Tang, một xã hết sức năng động ở Vĩnh Phú. Theo ông Đinh Văn Niệm, thư ký của “anh Năm” Võ Chí Công: “Anh Năm so sánh năng suất đất 5% và đất hợp tác xã rồi nói: Hầu hết những người tham gia chiến đấu ở Khu Vđều là dân Bắc, họ đã rất thôngminh, dũngcảm. Chỉ vì cơ chế mà miền Bắc phải chịu nghèo thế này”.

496 Nhà báo Thái Duy trả lời phỏngvấn tác giả. 497 Văn kiện Đảngtoàn tập, tập 41, trang540. 498 Chánh Văn phòngTrungươngKhóa IV. 499 Trả lời phỏngvấn tác giả. 500 Trả lời phỏngvấn tác giả. 501 Trả lời phỏngvấn tác giả.

502 Trước phiên họp của Bộ Chính trị, ôngNguyễn Ngọc Ẩn nói: “Nhữnggì các đồngchí phê phán chúngtôi tiếp thu và sửa chữa. Ở đây chúngtôi cần nói nhữngvấn đề cụ thể các đồngchí phát hiện nhận

xét như: Rượu ngoại các đồngchí nói là rượu chúngtôi mua hươngliệu về cất, đạt tiêu chuẩn để xuất khẩu tại chỗ, các đồngchí xem thử, khôngphân biệt được, chứngtỏ kỹ thuật chúngtôi tươngđối. Về tàu chở hàngra nước ngoài, chúngtôi bán hàngtươi sống, mướn tàu ta cả thángmới được, hànghư hỏnghết còn gì xuất khẩu, còn mướn tàu của nước ngoài, trongvònghai mươi bốn giờ là có mặt, họ chở hàngta đến nơi, đến chốn đúnghợp đồng, đảm bảo khônghư hỏng. Về tiền chúngtôi vay của ngân hàng800 triệu để mua bán, sau một chuyến chúng tôi phải giao trả tiền ngân hàng, rồi làm thủ tục vay mượn lại để tiếp tục mua bán chuyến mới, việc làm thủ tục vay mượn mỗi chuyến kéo dài cả tháng, làm sao chúng tôi mua bán liên tục đúng định kỳ được, nên đành phải giữ tiền chuyến trước cho chuyến sau, bây giờ cần trả tiền lại chúngtôi sẽ gom trongvòngmột tuần lễ đủ 800 triệu”.

503 Theo Nguyễn Thành Thơ.

504 Năm tháng sau đó, ngày 4-3-1983, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh lại họp và ra một “nghị quyết quan trọng” khác, được gọi là “Nghị quyết 19”, cảnh báo: “Sau đợt cải tạo tư sản thương nghiệp

tháng3-1978, côngtác cải tạo xã hội chủ nghĩa bị buônglỏngquá lâu. Một phần do quan điểm đánh giá đã hoàn thành cơ bản côngtác cải tạo côngthươngnghiệp tư bản tư doanh, đã cơ bản xóa bỏ giai cấp tư sản, việc còn lại chỉ là củngcố quan hệ sản xuất mới. Cũngcó quan điểm cho rằng, trong tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn ai làm tốt hơn thì nên duy trì miễn là có nhiều sản phẩm cho xã hội. Trong thực tế đây là buônglỏngđấu tranh giai cấp, buônglỏngchuyên chính vô sản tạo sơ hở lớn để cho các đối tượngcải tạo có cơ hội phục hồi và tiến cônglại trên nhiều mặt”.

505 Nhận xét của Phó Chủ tịch Hội đồngBộ trưởngTrần Phương.

506 Bí thư Thành ủy Hà Nội lúc bấy giờ là ông Lê Văn Lương. Năm 1956, ông Lương bị mất chức ủy viên Bộ Chính trị do những “sai lầm trong việc chỉ đạo chiến dịch chỉnh đốn tổ chức” bắt đầu từ năm

1953. Được ôngLê Duẩn đưa vào Ban Bí thư năm 1960 và đưa trở lại Bộ Chính trị năm 1976.

507 Phóngviên Hà Nội Mới, ôngNguyễn Đức Thà, tả một ngôi nhà bị cải tạo ở Quận Hai Bà Trưng: “Bước vào nhà đã có cảm giác dễ chịu, nền gạch trángmen, nhà dưới, tầngtrên đều có côngtrình vệ sinh riêng, có đèn neon, có gươngsoi. Các phòngđều có tiện nghị sinh hoạt như tivi, tủ lạnh, máy quay băng, sập gụ, tủ chè, gườngmodec, quạt trần, quạt bàn, salon gỗ lát, salon đệm mút¼ Đó là sự vô đạo đức, nỗi bất công không thể kéo dài” (Hà Nội Mới, 17-5-1983). Trên cùng số báo này, phóng viên Quang Cát viết: “Ai cũng phải đặt câu hỏi: Trong lúc đời sống còn rất khó khăn, lương chỉ đủ ăn, cá nhân nào có thể có tiền xây một nếp nhà lớn khangtrangnhư thế? Nhà hai tầng, trangtrí cầu kỳ, có bao lơn hoa văn, cánh cửa dưới nhà, trên gác đều sơn màu vàng¼ Trải qua nhiêu năm chiến tranh đất nước còn nghèo, làm sao có được một cơ ngơi như thế?… Một bà mẹ tóc đã hoa râm cương quyết nói: Phải xử lý chứ! Nó như cái gai trước mắt chúng tôi và nêu gương xấu cho mọi người”. Còn “bạn đọc” Nguyễn Ngọc Hiếu thì cho rằng, tịch thu tài sản bất minh là “nguyện vọng thiết tha của cán bộ và nhân dân lao động”… Chiến dịch Z-30 đã được một “luật gia” có tên là Phạm Ngọc Hải, lấy nguyên tắc của Lenin, “tước đoạt của những kẻ tước đoạt”, để phân tích: “Chính quyền đã thu hồi có chính sách rõ ràngphần tài sản bất minh để chuyển thành cơ sở phúc lợi côngcộng. Các vật liệu chiến lược như xi măng, sắt, thép, gỗ¼ đều do nhà nước quản lý và phân phối, thế mà số hộ bị kiểm tra thường là có đầy đủ các vật liệu ấy để xây dựng nhà cửa có giá trị lớn. Chúng ta cũng hoan nghênh tính chất nhân đạo trong quyết định của chính quyền thành phố. Chúng tôi mong rằng chính quyền Thủ đô tiếp tục cuộc đấu tranh rất được quần chúng đồng tình này. Chế độ chuyên chính vô sản của chúng ta không những phải trấn áp sự phản kháng của bọn bóc lột mà còn phải

nghiêm trị cả nhữngbọn gian thương, tham ô, trộm cướp, phá rối trật tự. Bọn chúngđều là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, hằngngày đầu độc khôngkhí tronglành của xã hội chúngta”

508 ĐặngPhong, 2009, trang(?).

509 Giáo sư Trần Đình Bút, người dẫn đoàn giáo sư Liên Xô sang giảng dạy ở trường Quản lý Kinh tế Cao cấp Trung ươngđến nghiên cứu kinh nghiệm “xé rào” của ông Năm Ve ở Xí nghiệp Đánh cá Côn

Đảo-VũngTàu đầu thập niên 1980, kể: Sau khi nghe giới thiệu toàn bộ quá trình hình thành và hiệu quả kinh doanh của xí nghiệp, trưởngđoàn Liên Xô đặt câu hỏi: “Đề nghị các nhà khoa học, các giáo sư Liên Xô và Việt Nam, hãy trả lời gọn trong một câu thôi: Nguyên nhân nào làm xí nghiệp quốc doanh Đánh cá Côn Đảo đã có những thành công đáng khâm phục như vậy?”. Mọi người im lặng, trưởng đoàn nửa đùa nửa thật nói: “Tại vì Năm Ve khônghọc, khôngbiết các nguyên tắc quản lý và hạch toán xã hội chủ nghĩa mà chúngta vẫn giảng”. ÔngVõ Văn Kiệt thừa nhận là cho đến khi trở thành ủy viên Bộ Chính trị, ôngchưa thực sự học qua một trườnglớp lý luận chính quy nào.

510 ĐặngPhong, 2009, trang66.

511 Nhân hai sự kiện: Tháng 7-1980, phi công Phạm Tuân được Liên Xô đưa vào vũ trụ trong một chuyến bay cùng với đại tá người Nga Gorbatko theo chương trình intercosmos; tháng 10-1980, nghệ sỹ

Đặng Thái Sơn đoạt giải nhất cuộc thi Piano Quốc tế Frédéric Chopin. Với Phạm Tuân thì dân chúng dễ dàng nhận thức ra vấn đề, nếu như truyền thông suốt ngày nói về “niềm tự hào dân tộc” thì người dân lại coi đó là một trườnghợp “quá giang”. Sự hờ hữngnày được lột tả tronghai câu ca dao hiện đại: “Bo bo còn phải độn mì/ Mi lên vũ trụ làm gì hở Tuân”. Trườnghợp của nghệ sỹ ĐặngThái Sơn thì khác. Khi ấy, Sơn đanghọc tại nhạc viện Tchaikovsky, Liên Xô. Thành tích của anh thật đángđể ngợi ca (Báo chí Việt Nam lúc đó hoàn toàn khôngbiết sự kiện hai vị giám khảo MarthaArgerich và Nikita Magaloff đã bỏ Hội đồngGiám khảo cuộc thi vì thí sinh mà theo họ là tài năngnhất, Ivo Pogorelich, khônglọt vào vòngchungkết do bị một giám khảo người Nga cho điểm 0). Nhưngsự kiện Sơn đoạt giải và được tunghô càngkhiến cho tầnglớp trí thức nhớ lại và xót thươngcho thân phận cha anh, ôngĐặngĐình Hưng, một nhà thơ cách tân bị ghép vào vụ Nhân Văn Giai Phẩm. ĐặngThái Sơn kể: “Nhờ có Concours Chopin 1980 mà bố tôi được sống thêm mười năm. Vì lúc ấy bố tôi bị ung thư phổi nặng, đang phải sống ở gầm cầu thang nhà một ông bạn, không nhà không cửa mà đưa vào viện thì cũng chỉ nằm chờ chết. Đúng hôm thi, bố tôi vào viện. Ở nhà điện sang nói tôi thi xong phải về ngay. Lúc đó tôi tính nếu ở trong nước mà không chạy chữa được cho bố thì tôi sẽ đưa ông ra nước ngoài. Cuối cùng, Giáo sư Tôn Thất Tùng và Giáo sư Hoàng Đình Cầu đã chữa chạy cho bố tôi, giúp ôngsốngthêm được mười năm nữa. Concours Chopin đã đem lại nhiều thay đổi khôngchỉ với cuộc đời tôi mà cả gia đình tôi”.

512 “Chinh” là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất.

513 Ông Trường Chinh sinh ngày 9-2-1907 tại làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, trong một gia đình được nói là hậu duệ của Đặng Tất, một danh tướng thời Hậu Trần (Ngày 28-12-

1975, ôngTrườngChinh, tên khai sinh là ĐặngXuân Khu đã về thắp hươngcho tiên tổ ĐặngTất, ĐặngDungở Hà Tĩnh, là sự kiện được coi như một độngthái “nhận họ” của ôngTrườngChinh). Khi còn học ở bậc Thành Chung, Trường Chinh đã tham gia đấu tranh đòi ân xá cho Phan Bội Châu; ông cũng là một trong những người lãnh đạo cuộc bãi khóa ở Nam Định để truy điệu Phan Chu Trinh và bị đuổi học. Năm 1927, khi ra Hà Nội học trườngCao đẳngThươngmại, ôngtham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạngĐồngchí Hội rồi trở thành một trongnhữngngười đầu tiên vận độngthành lập ĐôngDươngCộngsản Đảng ở Bắc kỳ. Cuối năm 1930, Trường Chinh bị bắt cùng với Nguyễn Đức Cảnh, ông Cảnh sau đó bị kết án tử hình, còn Trường Chinh lãnh án tù mười hai năm. Trong tù, ông vẫn làm chủ bút một tờ báo để tranh luận với các “đối thủ Việt Nam Quốc dân Đảng”, năm 1936 ông được tha trước thời hạn. Sau khi ra tù, ông trở thành xứ ủy viên Bắc kỳ, làm chủ bút tờ báo Cờ giải phóng, cơ quan của xứ ủy; ngoài ra, ông còn phụ trách các tờ báo tiếng Pháp như Le Travail, Rassemblement, En Avant và báo Tin tức. Ngày 26-9-1939, sau khi Chiến tranh Thế giới II nổ ra, Tổng thống Pháp Lebrun ban hành sắc lệnh “Giải tán Đảng Cộngsản ở Pháp cũngnhư ở các thuộc địa của Pháp” trongđó có ĐôngDương. Ngay trongthángđầu tiên sau chiến tranh, người Pháp đã bắt khoảng2000 đảngviên cộngsản ở Việt Nam, riêngNam Kỳ, hơn 800 đảng viên bị bắt. Ngày 17-1-1940, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, rồi tiếp đó, các Ủy viên Trung ương Lê Hồng Phong, Võ Văn Tần bị đưa vào ngục. Người tiền nhiệm của ông Cừ là Hà Huy Tập thì đã bị người Pháp bắt từ ngày 1-5-1938. Ở Xứ ủy Bắc kỳ, TrườngChinh, Hạ Bá Cang, HoàngVăn Thụ, LươngKhánh Thiện chạy thoát trước khi các chiến dịch bắt bớ diễn ra. TrungươngĐảng, lúc ấy chỉ còn đúngmột ủy viên là ôngPhan ĐăngLưu, quyết định chuyển cơ quan trungươngtừ Nam ra Bắc, đồngthời bàn việc phối hợp hành độngvới miền Bắc và miền Trungkhi “Nam Kỳ khởi nghĩa”. Ở Hà Nội, Phan ĐăngLưu họp với Xứ ủy Bắc Kỳ, lập Ban Chấp hành Trungươnglâm thời, bầu bổ sungHoàngVăn Thụ, ĐặngXuân Khu (TrườngChinh) và Hạ Bá Cang(HoàngQuốc Việt). Phan ĐăngLưu thay vì nhận chức tổngbí thư đã nhất trí cùngnhữngngười dự họp cử TrườngChinh làm quyền tổngbí thư Ban Chấp hành Trungươnglâm thời.

514 Ngày 15-1-1942, Trường Chinh viết trên báo Cứu Quốc: “Hỡi các giới sĩ, nông, công, thương, binh! Hỡi các đoàn thể cứu quốc! Hỡi toàn thể đồng bào mất nước Việt Nam. Đã 80 năm, Tổ quốc kính yêu mất quyền độc lập, sa vào vòng nô lệ của giặc Pháp tham tàn. Đã 80 năm, dân tộc Việt Nam phải mang trên trán vết quốc sỉ nhuốc nhơ mà máu đào của bao nghĩa sĩ anh hùng tới nay vẫn chưa rửa sạch. Giờ đây, quốc sỉ tăngthêm nhục nhã, quốc thù tăngthêm căm hờn; giờ đây, giangsơn tổ tiên lại thêm giặc Nhật chà đạp, tấm thân trâu ngựa lại bị thêm 1 lần áp bức đọa đầy. Nhật khai chiến với Anh, Mỹ, lôi cuốn xứ sở ta vào vòng khói lửa binh đao. Trước cảnh nước mất, nhà tan thê thảm, Cứu Quốc, Cơ quan cổ động của Việt Nam Độc lập Đồng minh ra đời, thống thiết kêu gọi toàn quốc đồng bào mau hợp sức cùng lòng đánh đuổi Pháp, Nhật, rửa nhục cho non sông, đưa Tổ quốc tới chốn vinh quang độc lập”. Ông long trọng kêu gọi: “Cứu Quốc sẽ giải bày nỗi lầm than thống khổ của muôn dân. Cứu Quốc sẽ nêu cao những ý muốn thiết tha của trăm họ. Cứu Quốc sẽ là người chỉ lối trung thành cùng đồng bào cùng tiến lên trên đường giải phóng dân tộc¼ Toàn thể đồng bào yêu nước hãy tận tâm ủng hộ Cứu Quốc về mọi phương diện, hãy cươngquyết tiến lên dưới bóngcờ sắc đỏ sao vàng!”.

515 Đêm 9-3-1945, khi vừa ra khỏi rừng từ chuyến “ngự săn” ở Quảng Trị, Hoàng đế Bảo Đại được người Nhật đưa “hồi cung” ngay. Một sỹ quan Nhật nói với quan Ngự tiền Văn phòng Tổng lý Phạm Khắc Hòe: “Quân đội Thiên Hoàngchỉ truất quyền của thực dân Pháp thôi, chớ khôngđụngchạm gì đến Nam Triều” (Phạm Khắc Hòe, Từ Triều đình Huế đến Chiến khu Việt Bắc, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2007). Hôm sau, Đại sứ Nhật ở ĐôngDươngYokoyama vào “chầu và tâu lên nhã ý muốn côngnhận nền độc lập” cho Việt Nam. Có mặt trongbuổi “chầu” đó, Phạm Quỳnh nói với Đại sứ Nhật: “Chúngtôi cần phải có được sự ủnghộ của toàn thể nhân dân, và để đạt được điều đó, uy tín của chính phủ chúngtôi cần phải được tăngcườngbằngmột hành độnglongtrọngtuyên cáo độc lập”. Yokohama cho rằng, tuyên cáo độc lập để chứng tỏ chủ quyền là công việc nội bộ mà và Chính phủ Việt Nam có “tự do tuyệt đối” để hành động. Ngày 11-3-1945, sau khi họp Hội Đồng Cơ Mật, vua Bảo Đại ký ban dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884. Ngày 17-3-1945, Nhà Vua lại ra một Dụ khác tuyên bố sẽ tự tay mắm quyền trên cơ sở “dân vi quý”. Người Nhật cũngđã đưa nhà sử học Trần Trọng Kim ra Huế sau khi ông “nhận lời làm Thủ tướng”. Ngày 17-4-1945, nhà vua ban Đạo dụ thành lập Chính phủ. Khi ấy, nạn đói bắt đầu lan ra phía Bắc, trong khi đường sá thường xuyên bị máy bay và pháo hạm của ĐồngMinh oanh tạc (tháng5-1945, Bộ trưởngVũ NgọcAnh đã bị máy bay Mỹ bắn chết sau một chuyến kiểm tra các cơ sở y tế ở Thái Bình). Mặc dù tự nhận là “dân chúngđòi hỏi và chờ mong rất nhiều mà Chính phủ chưa làm được gì đángkể”, nhữngviệc mà Chính phủ Trần TrọngKim đã làm là rất ấn tượng: Yêu cầu Nhật chuyển giao tất cả các cơ sở hành chính cho các viên chức Việt Nam; Thu hồi đất Nam Kỳ và các nhượngđịa đã dành cho Pháp; Ân xá toàn thể các phạm nhân chính trị; Cho phép thành lập các đảngphái chính trị; Miễn thuế cho côngchức, thợ thuyền và dân nghèo; Thiết lập các Ủy ban tư vấn quốc gia để soạn thảo Hiến Pháp và nghiên cứu cải tổ chính trị, hành chính và giáo dục. Chỉ trong gần 5 tháng tại vị, Chính phủ Trần Trọng Kim đã: Đưa chương tiếng Việt vào chương trình giáo dục thay thế tiếngPháp (có vai trò quan trọngcủa Bộ trưởngBộ Giáo dục – Mỹ thuật HoàngXuân Hãn); miễn thuế cho dân vô sản; hoãn nợ cho dân nghèo; đưa từ miền Nam ra miền Trungvà miền Bắc gần hai nghìn tấn gạo; đại xá cho chính trị phạm; trừngtrị một số quan lại tham nhũng; đề bạt một số quan lại trẻ¼ Tháng8-1945, Nội các Trần TrọngKim bắt đầu tan rã dần vì sự trỗi dậy mạnh mẽ của phongtrào có vũ trangcủa Việt Minh.

516 Ngày 13-8-1945, người Nhật ở Hà Nội đã gặp Việt Minh tại phủ Khâm Sai, “mời Việt Minh tham gia chính phủ lâm thời Trần Trọng Kim” nhưng theo ông Trần Quốc Hương, phái viên của Tổng Bí thư Trường Chinh tại Hà Nội, Việt Minh đã từ chối. Ngày 14-8-1945, Chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố công khai “vẫn hợp tác chặt chẽ với nhà đương cục Nhật”. Trước đó, ngày 12-8, Bộ trưởng Thanh Niên của Trần TrọngKim, Luật sư PhanAnh, gửi điện cho các nơi nhắc nhở: “Chớ nhẹ dạ dễ bị lừa đảo vì bọn phiến loạn và bọn tuyên truyền có mục đích gieo sự loạn lạc vô trật tự”. Bọn “phiến loạn” mà ông PhanAnh nói trongbức điện trên đây được hiểu là “ám chỉ Việt minh”. Ngày 17-8-1945, khi “Tổnghội viên chức Hà Nội” tổ chức một cuộc biểu tình lớn tại Nhà hát Tây để ủnghộ Chính phủ Trần TrọngKim, nhữngngười cộngsản đã bí mật chuẩn bị để khi cuộc mit-tin vừa diễn ra, nhảy lên, cướp diễn đàn, biến cuộc mit-tin ủnghộ Trần TrọngKim thành tố cáo Chính phủ của ônglà “bù nhìn”. Một cuộc biểu tình khác được Xứ ủy quyết định sẽ tổ chức một hoạt độngkhác, lần này khôngchỉ là “cướp biểu tình” mà là chính thức “cướp chính quyền”. Ngày 19-8-1945, Việt Minh tràn ngập Bắc Bộ Phủ, nơi vốn là Phủ Thốngsứ và khi ấy đang là văn phòng của Khâm sai Phan Kế Toại. Người Nhật sau đó đã triển khai một đơn vị xe tăng, hăm dọa cuộc biểu tình. Theo ông Mười Hương, đại diện Việt Minh đã nói với viên chỉ huy quân Nhật: “Nhật khôngnên can thiệp vào côngviệc nội bộ của người Việt Nam”. Câu nói ấy có thể chỉ tình cờ phát ra để ngăn chặn một mối đe dọa tức thời nhưngcũngchứa đựngbiết bao dự báo. Ngay lúc ấy, Quốc Dân Đảngvà nhữngngười tham gia Chính phủ Trần TrọngKim đều được gọi là “Đại Việt gian”. Cuộc đấu tranh của nhữngngười cộngsản ở giai đoạn này chưa phải với ngoại xâm mà với nhữngđảngphái không cộngsản.

517 An toàn khu.

518 Trần Nhâm, 2005, trang14-15.

519 Nền kinh tế Liên Xô đã được Stalin thiết kế dựa trên nền tảng lý thuyết mà Preobrajensky và Bukharin đã viết trong cuốn ABC của Chủ nghĩa Cộng sản, xuất bản năm 1919. Cho dù cả Bunkharin và

Preobrajensky đều đã bị Stalin thanh trừng vào giữa thập niên 1930 nhưng cuốn sách của hai ông đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng như Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Trung Quốc. Từ lý thuyết của Preobrajensky và Bukharin và thực tiễn xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô trong thập niên 1930, năm 1952, Stalin viết cuốn Những Vấn Đề Kinh Tế Của Chủ Nghĩa Xã Hội ở Liên Xô. Năm 1953, các nhà lý luận Xô Viết đã dựa trên sách của Stalin để viết ra cuốn “Sách Giáo Khoa Kinh Tế Chính Trị Học”. Cả hai cuốn đã được in tới sáu triệu bản trongvònghơn một năm và trở thành sách “gối đầu giường” của cán bộ các nước xã hội chủ nghĩa. Ở Việt Nam, năm 1953, Nhà Xuất bản Sự Thật đã dịch và xuất bản cuốn sách của Stalin; năm 1956, xuất bản cuốn Sách Giáo Khoa Kinh Tế Chính Trị Học.

520 Hệ thống được Đảng Lao động Việt Nam thiết lập từ đầu thập niên 1950 và được gọi là Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, khi dời từ trong Chiến khu về Hà Nội. Ngay sau khi giành được chiến thắng ở miền Nam, ngày 22-12-1975, Ban Bí thư đã quyết định “mở rộng quy mô trường Nguyễn Ái Quốc, theo đó Trường phải “liên tục mở các lớp nghiên cứu sinh” để đưa số học viên từ 1.500 trong năm học 1975- 1976 lên 1.800 rồi 2.000 học viên trong hai năm kế tiếp. Năm 1976, Ban Bí thư đã ra quyết định xây dựng trường Nguyễn Ái Quốc II tại Sài Gòn; Nguyễn Ái Quốc III tại Gia Lâm; Nguyễn Ái Quốc IV tại Đà Nẵngvà, cuối năm 1976, cho xây dựngtại Hà Nội TrườngĐảngCao cấp Tại chức đảm bảo huấn luyện 3.000 học viên/năm. Ngoài ra, cũngtrongnăm 1976, Ban Bí thư còn ra quyết định mở rộngTrườngTuyên huấn Trungươngở Hà Nội và hai thángsau đó ra quyết định xây dựngtrườngTuyên huấn TrungươngII với quy mô 1.000 học viên tại Đà Nẵng.

521 Như: Bộ trưởng, Thứ trưởng, Vụ trưởng, Trưởng ban các Ban của Trung Ương, Bí thư và Chủ tịch của các tỉnh, Bí thư và Chủ tịch của các huyện, giám đốc các xí nghiệp, Cục trưởng, Vụ trưởng, Viện trưởng…

522 Novaya Economishéskaya Potika

523 Theo Giáo sư Trần Nhâm, thư ký của ôngTrườngChinh.

524 Lê Duẩn nhấn mạnh: “Trong chủ nghĩa tư bản, có tiền là mua được tất cả. Trong chủ nghĩa xã hội, đồng tiền không còn vị trí như vậy, cái quyết định là sử dụng lao động xã hội trên cơ sở làm chủ tập

thể¼ Giá cả phải là giá có kế hoạch, hình thành từ trongsản xuất, chứ khôngphải hình thành do quan hệ cungcầu trên thị trường”. Ôngđòi hỏi nhà nước phải nhanh chóngthốngnhất quản lý và độc quyền kinh

doanh những mặt hàng lớn. Lê Duẩn nói: “Phải chống khuynh hướng muốn lấy giá thị trường tự do làm tiêu chuẩn để định giá nhà nước, hoặc khóa tay chúng nó lại, không cho phép tự do mua bán lương thực,

nôngsản, hàngcôngnghiệp chủ yếu, tuyên chiến với bọn phá hoại, đầu cơ, buôn lậu, lập lại trật tự xã hội chủ nghĩa trên thị trường”.

525 Trường Chinh chỉ ra bài toán về giá trước Hội nghị Trung ương: “Chúng ta đã bán vật tư với giá thấp, dưới 50% giá trị, khiến cho giá thành tính toán bị sai lệch rất xa so với thực tế, gây thiệt hại mỗi năm hàngtrăm tỷ đồng. Với chính sách giá như vậy, hàngnăm chúngta đã để tuột ra khỏi tay mình một khối lượnglớn vật tư nhập khẩu. Đưa một tỷ rúp vật tư ra, ta chỉ thu về khoảng20 tỷ đồng. Nếu tính theo tỷ giá hối đoái 100 đồng/ rúp thì số mất lại càng lớn hơn, tới 130 tỷ đồng. Điện là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt, chỉ có Nhà nước độc quyền kinh doanh, nhưng ta đã bán với giá rất thấp hơn hàng chục lần so với giá thành sản xuất, làm thiệt hại hàngnăm gần tới gần 40 tỷ đồng. Xăngdầu, than, sắt thép, xi măng¼tình hình cũngtươngtự. Nhà nước mất mỗi năm hàngtrăm tỷ đồng. Từ cuối năm 1983 lại đây, ta mới vận độngmua côngtrái chưa được 2 tỷ đồng¼ đủ thấy mất mát của chúngta quá lớn, khôngcó nguồn thu nào bù đắp được”.

526 Theo ông Trần Việt Phương: Trường Chinh và Lê Duẩn luôn thể hiện sự tôn trọng nhau. Tôi nghe cả hai ông kể về những ngày ở tù. Phía sau Hỏa Lò có một con đường chạy sang tòa án. Người Pháp thường đưa tù tử hình ra xử bắn ở đấy vào lúc 2-3 giờ sáng. Trường Chinh nói: “Có những lần chúng tôi đau mà không khóc, nhìn cảnh người ta xử tử ngay dưới lòng đường”. Họ là những người đã từng gắn bó nhau sinh tử. Lúc bấy giờ nhữngngười trongBộ Chính trị chuẩn bị phát biểu gì đều gửi cho các ủy viên Bộ Chính trị khác để xin ý kiến. Lê Duẩn có một chỉ thị: “Nếu các ủy viên khác có ý kiến về bài của tôi thì phải cho tôi biết, nếu anh Năm chữa gì thì cứ thế mà chấp hành”. Ông Lê Duẩn biết ông Trường Chinh rất thận trọng. Trường Chính biết có những điều mình và Lê Duẩn không hợp nhau, nhưng ông không bao giờ chữa, chỉ chữa nhữnglỗi chữ nghĩa.

527 Nhiều tháng trước Hội nghị Trung ương 6, ông Lê Duẩn đã sử dụng mười chuyên gia giúp việc để chắp bút bản báo cáo này. Theo ông Trần Phương, người có tham gia thảo luận trong quá trình hình thành “mười quy luật kinh tế” của ôngLê Duẩn, các ôngTrần Phương, Trần Quỳnh, HoàngTùng, ĐốngNgạc là người chấp bút chính bài phát biểu nói trên của ôngLê Duẩn.

528 Trần Nhâm, 2005, trang117.

529 Sài Gòn Giải Phóng, 15-9-1985. 530 Tuổi Trẻ, 16-9-1985.

531 Trần Nhâm, 2005, trang120-121. 532 Trần Nhâm, 2005, trang119. 533 Sđd, trang58-60.

534 Tài liệu lưu trữ cá nhân của Giáo sư Trần Đình Bút.

535 Nhà kinh tế học mà quan điểm của ôngđược áp dụngở Tiệp Khắc hồi giữa thập niên 1960.

536 Nhữngphát biểu của Paskar và các ý kiến liên quan đến bài báo của Giáo sư Đào Xuân Sâm trongđoạn này được trích từ biên bản họp Hội đồngBộ trưởngngày 8-5-1986. 537 Trần Nhâm, 2005, trang270.

538 Nguyễn Thụy Nga, 2000, trang204.

539 Theo ôngĐoàn Duy Thành và HoàngTùng, tháng12-1985, ôngLê Duẩn yếu dần và thườngkhôngcòn tham gia họp Bộ Chính trị, TrườngChinh xử lý hầu hết các côngviệc trongĐảng. Thế nhưng, Lê

Đức Thọ vẫn lên Hồ Tây thăm và xin Lê Duẩn: “Anh ốm, sức khỏe của anh bắt đầu hạn chế, anh giới thiệu với Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương để tôi thay anh đi”. Ông Lê Duẩn nói: “Với tình hình Đảngta bây giờ, anh chưa thay tôi được mà phải TrườngChinh”. Tháng4-1986, Lê Đức Thọ lại đến, lần này đi hai vợ chồng. Ông Thọ, được tả là đã quỳ xuống chân Lê Duẩn nhưng bị Lê Duẩn hất ra: “Anh lạ thật, tôi đã từ chối rồi. Nhữngkhi nào cần nổi danh là anh cứ xin tôi, đi Paris, rồi đi miền Nam khi sắp giành chiến thắng. Tôi đã nói rồi, TrườngChinh”.

540 Bản ghi phát biểu của Lê Đức Thọ tại Hội nghị.

541 Trước Đại hội V, tháng3-1982, Lê Đức Thọ chuẩn bị một đề án thiết lập chế định Chủ tịch Đoàn trongĐảng, theo đó: năm vị đanggiữ cươngvị cao nhất trongĐảngsẽ giữ chức chủ tịch Đảng; Lê Duẩn,

nhà lãnh đạo cao nhất sẽ giữ chức danh Chủ tịch Đoàn Chủ tịch; một trong năm vị chủ tịch sẽ giữ chức tổng bí thư, vị trí được cho là của Lê Đức Thọ. Theo ông Việt Phương, thư ký Tổng Bí thư Lê Duẩn, thì đấy là mô hình mô phỏng Trung Quốc; ở Trung Quốc khi áp dụng mô hình này, Đặng Tiểu Bình, tuy không ở trong Chủ tịch Đoàn nhưng đã giữ chức tổng bí thư, một cương vị tuy thấp hơn nhưng có thực quyền vì xử lý thườngvụ mọi vấn đề trongĐảng. Đề án của Lê Đức Thọ đã làm cho nhiều người lo lắng: sau khi “tôn vinh” Lê Duẩn làm chủ tịch, thực quyền sẽ thuộc về “TổngBí thư” Lê Đức Thọ. Tuy nhiên, Lê Duẩn đã dập tắt ý định này khi mở đầu cuộc họp, ôngtuyên bố: “Ở Việt Nam chỉ có Bác xứngđánglàm chủ tịch Đảng. Ai muốn làm chủ tịch thì cứ làm, tôi khôngdám”.

542 Thoạt đầu, Tố Hữu được ôngLê Duẩn “bồi dưỡng” để kế nhiệm chức Tổngbí thư, nhưngthất bại của cải cách Giá-Lương-Tiền đã đánh mất nốt chút uy tín còn lại của một “nhà thơ đi làm kinh tế”. 543 Tố Hữu khôngbị cách chức ôngvẫn được đưa vào danh sách ứngcử vào Ban chấp hành Trungươngtại Đại hội VI nhưngthất cử (cùngvới HoàngTùng).

544 ÔngPhạm Văn Đồngđược nhữngngười giúp việc đánh giá là “một nhà văn hóa hơn là một nhà kinh tế”. Ôngthườngtự tay soạn thảo các phát biểu của mình rồi mới đưa cho thư ký chữa thay vì thư ký

chuẩn bị như nhữngngười khác. Theo Việt Phương: “Ôngnghĩ sâu xa cân nhắc trước khi viết ra, nói ra”. Bằngmột thứ tiếngPháp lưu loát, ôngPhạm Văn Đồngrất dễ gây cảm tình với các nhà báo và các đồngsự quốc tế. Bên trong, với tác phonggiản dị, nhân hậu, ôngcũngcó được sự yêu mến của cấp dưới và côngchúng.

Ông Phạm Văn Đồng sinh năm 1906 ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Thường được gọi là anh Tô. Sự nghiệp cách mạng của ông bắt đầu từ phong trào bãi khóa chống Pháp của học sinh, sinh viên năm 1925, nhân đám tangcủa nhà chí sỹ Phan Châu Trinh. Năm 1926, ôngsangQuảngChâu dự lớp huấn luyện cách mạngdo Hồ Chí Minh tổ chức và gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạngĐồng chí Hội. Tháng7-1929, ôngbị người Pháp bắt, bị kết án mười năm tù và bị đày đi Côn Đảo. Mãi tới năm 1936, ôngmới được ra tù để rồi năm 1940, cùngVõ Nguyên Giáp, bí mật sangTrungQuốc cùnggia nhập ĐảngCộngsản ĐôngDươngvà được Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ về nước xây dựngcăn cứ địa ở biên giới Việt – Trung. Tại Quốc dân Đại hội Tân trào, năm 1945, ôngđược bầu vào Ủy ban Thườngtrực gồm năm người thuộc Ủy ban Dân tộc Giải phóng, chuẩn bị cho Cách mạngthángTám.

Trongchính phủ đầu tiên của Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồnglà bộ trưởngtài chính và sau đó kiêm thêm chức phó trưởngBan Thườngvụ Quốc hội. Tháng6-1946, khi Bộ trưởngNgoại giao Nguyễn Tường Tam từ chối đi Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, ông được Hồ Chí Minh cử thay Nguyễn Tường Tam làm Trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia hội nghị. Từ tháng 7-1949, ông là phó thủ tướngduy nhất trongchính phủ do Hồ Chí Minh đứngđầu, mặc dù, mãi tới Đại hội II, năm 1951, ôngmới trở thành ủy viên Bộ Chính trị. ÔngĐồnglà người nhận lãnh sứ mệnh lịch sử khi được cử làm Trưởng phái đoàn Chính phủ dự Hội nghị Genève về ĐôngDương, nơi, ôngký vào bản Hiệp định chia Việt Nam thành hai miền Nam – Bắc. Từ tháng9-1955, ônglàm thủ tướngrồi chủ tịch Hội đồngBộ trưởngcho đến năm 1987. ÔngPhạm Văn Đồngđứngđầu chính phủ trongmột giai đoạn mà nền kinh tế vận hành dựa trên nguyên tắc kế hoạch hóa tập trung. Cả miền Bắc như một cỗ máy đã được lập trình, vai trò hình thành chính sách gần như không đáng kể. Cho dù, ông là người ký các nghị định của chính phủ ban hành chính sách cải tạo công thương nghiệp ở cả miền Bắc, hồi năm 1958, và miền Nam, năm 1977, Phạm Văn Đồng chỉ là người thừa hành chứ không phải là tác giả. Cũng có một số chính sách xuất hiện khi ông Phạm Văn Đồng còn là thủ tướng có tác dụng tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất kinh doanh như: Nghị quyết Trungương6, khóa IV, tháng6-1979; Quyết định 25-CP, 21-1-1981. Nhưng, vai trò của Phạm Văn Đồngtrongđổi mới là rất mờ nhạt. Theo Hà Nghiệp, vào thời điểm ấy, xungquanh Phạm Văn Đồngkhôngcòn người giỏi nữa. Trợ lý xuất sắc nhất của ônglà Việt Phương, sau khi xuất bản tập thơ “Cửa Mở” đã bị tách ra.

Về đời tư, ôngPhạm Văn Đồnglà một người khôngmay mắn. Năm 1946, ônglấy vợ, bà Phạm Thị Cúc, nhưngchỉ một tuần sau khi cưới, chiến tranh bùngnổ, ôngđược cử làm đặc phái viên của Trungương Đảngvà Chính phủ tại Nam Trungbộ. Cuối năm 1948, bà Cúc được đưa vào với chồng. Sau nhiều thángđi bộ, tháng3-1949, bà tới nơi nhưnggặp chồngchỉ được chưa đầy tuần thì Phạm Văn Đồnglại có lệnh ra Bắc. Năm ấy bà Cúc chỉ mới hai mươi ba tuổi. Có lẽ hoàn cảnh ấy đã tác động lớn tới tinh thần của bà, năm 1950 bà bắt đầu bị bệnh tâm thần phân liệt. Ông Trần Việt Phương kể: “Lúc đầu chỉ là một cơn kịch phát sau đến mức bị trầm uất, các bác sỹ Nga và TrungQuốc đều tận tình nhưngrồi khôngchữa được. Một lần, các bác sỹ nhận thấy chị Cúc rất nhớ chồng. Họ nói với tôi là nên đưa chị về để anh chị gần nhau, hy vọng là điều ấy có thể giúp cải thiện tình trạng bệnh tình của chị. Tôi về, nói với Phạm Văn Đồng, anh đồng ý, chỉ nhờ tôi tìm giúp các phương tiện tránh thai. Hai ngày sau, Phạm Văn Đồng mang trả tôi các bao cao su rồi lắc đầu: họ nhầm. Về sau, chị Cúc được đưa về một ngôi nhà ở phố Phúc Hạo. Mỗi lần Phạm Văn Đồngra, anh đưa tay cho vợ, chị Cúc cũngđưa tay ra, nhưnghai bàn tay run lên bần bật, chới với, mong muốn mà không nắm nổi tay chồng. Tôi nhận thấy cả hai, một tỉnh, một không, đều rất đau đớn”. Ông Phạm Văn Đồng sống cô độc như thế cho đến tận cuối đời cho dù nhiều lần, nhiều người trong Trung ương có khuyên ông lấy vợ. Ông Việt Phương nói: “Hồ Chí Minh ủng hộ lựa chọn này của Phạm Văn Đồng”. Bà Cúc kịp sinh cho ông một người con trai tên là Phạm Sơn Dương trước khi bệnh tình của bà trở nên vô phươngcứu chữa.

545 Ngày 20-9-1986, trên tờ Pravda, Gorbachev nói về “Đổi mới, làm chủ và sáng tạo”. Ngày 1-10-1986, Gorbachev cho rằng: “Cái cũ không dễ dàng đầu hàng, phải dũng cảm để đưa ra cái mới”. Ngày 11- 10-1986, các báo Việt Nam vừa đưa tin về cuộc gặp giữa Gorbachev và TổngthốngMỹ Reagan tại Iceland vừa đăngphát biểu của Gorbachev trước đó tại ĐảngKhu ủy Graxnoda: “Dân chủ như khôngkhí, như đòn bẩy nângcả xã hội vào côngcuộc đổi mới”.

546 Chính nhữngcải cách mà Gorbachev tiến hành vào tháng2-1986 tại Đại hội 27 ĐảngCộngsản Liên Xô như glasnost (mở cửa), perestroika (cải tổ)¼ đã dẫn đến chấm dứt hoàn toàn chiến tranh lạnh và làm sụp đổ căn bản hệ thốngxã hội chủ nghĩa chỉ trongmột nhiệm kỳ của Gorbachev.

547 Theo Ogomolov: “Trongcải tổ kinh tế, có một số vấn đề then chốt mà, theo tôi, chúngta sượngsùnglảngtránh. Đó là vấn đề thị trườngdưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Từ thị trườngphần lớn được nhắc tới một các tiêu cực”. Sau khi phát biểu này đăngtrên tờ Sự Thật, nhà kinh tế Clagoliev nói lại, cũng trên Sự Thật: “Trong tất cả các kiểu thổi phồng của tuyên truyền tư bản xét lại thì huyền thoại về thị trường là nguy hiểm hơn cả”.

548 Phần chủ yếu phải viết lại trong Báo cáo Chính trị là phần kinh tế. Ba vấn đề lớn mà Tổ Biên tập báo cáo xin ý kiến Trưởng Chinh: Đổi mới tư duy về cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, khắc phục khuynh hướngham côngnghiệp nặngvà côngtrình lớn, chuyển hướngđầu tư và phát triển sản xuất vào ba mục tiêu cơ bản và cấp bách để vượt qua khủnghoảngkinh tế-xã hội là lươngthực, thực phẩm – hàngtiêu dùng-

hàngxuất khẩu; Chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần, coi kinh tế cá thể và tư nhân còn cần thiết và tồn tại lâu dài trongthời kỳ quá độ. Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, cùngvới kinh tế tập thể và kinh

tế gia đình gắn với nó hợp thành lực lượng kinh tế xã hội chủ nghĩa chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế; việc cải tạo các thành phần kinh tế khác là nhiệm vụ lâu dài, gắn với yêu cầu sử dụng, phát huy khả năng của họ theo phươngchâm: sử dụngđể cải tạo, cải tạo để sử dụngtốt hơn; Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xóa bỏ cơ chế tập trungquan liêu bao cấp, chuyển sangcơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Lúc này, mới chấp nhận kinh tế hàng hoá và sử dụng quan hệ hàng hoá-tiền tệ để xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, chưa giải thoát được nhận thức coi kinh tế thị trường và cơ chế thị trườngkhôngdunghợp với chủ nghĩa xã hội.

549 TướngLê TrọngTấn cùngvới TướngHoàngVăn Thái là hai chỉ huy quân đội đã sát cánh với TướngGiáp suốt hai cuộc khángchiến, cả hai người đều có mặt tại Điện Biên Phủ. TướngGiáp cho rằngLê Trọng Tấn là “một trong các vị tướng giỏi nhất Việt Nam qua các thời đại”. Chính Đại Đoàn 320 của Lê Trọng Tấn đã cắm cờ trên hầm De Castries, dành chiến thắng huy hoàng ở Điện Biên Phủ. Ba mươi mốt năm sau, cũng chính chiếc xe tăng 390 nằm trong Cánh Quân Phía Đông của Lê Trọng Tấn đã húc đổ cổng Dinh Độc Lập, kết thúc cuộc chiến tranh thống nhất hai miền Nam Bắc. Ngày 18-10-1986, tại Đại hội ĐảngToàn Quân, Lê TrọngTấn được bầu làm trưởngđoàn đại biểu quân đội đi dự Đại hội Đảnglần thứ VI.

550Ông Lữ Minh Châu kể rằng, tháng 6-1986, khi đang làm giám đốc Ngân hàng Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh, trong một ngày, ông nhận được điện của Ban Tổ chức Trung ương gọi ra Hà Nội. Cầm bức điện mật trong tay mà ông không rõ là bị “triệu” bởi một việc lành hay dữ. Đến chiều, ông biết mình trở thành tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đưa tin về Quyết định bổ nhiệm ông của Bộ Chính trị. Người mà ông Châu gặp khi ra tới Hà Nội không phải là nhân vật đứng đầu Chính phủ của ông mà là Lê Đức Thọ. Ông Đỗ Quốc Sam cũng được nhấc từ “ghế” Hiệu trưởng trường Đại học Xây dựng về làm Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng Cơ bản Nhà nước vào tháng 6-1982 theo cách đột ngột như vậy. Ông Sam kể lại rằng, khi ông đến dự phiên họp Chính phủ đầu tiên, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phải hỏi: “Anh là ai? Tại sao lại ngồi ở đây?”. Vụ trưởng Vụ Tổng hợp Văn phòng, đang làm thư ký phiên họp, đã phải đỡ lời: “Thưa, đây là anh Đỗ Quốc Sam, thành viên mới của Chính phủ ạ”.

551 Lê Đức Thọ, Người Cộngsản Kiên cường¼, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2011, trang69.

552 Trích Hồi ký của ông Nguyễn Thành Thơ: Trước Đại hội IV, anh Thọ kêu tôi đến gặp. Ngang Sở Nông nghiệp Thành phố, ngang đường Cách mạng Tháng Tám, có con đường đi sâu vô ruột khu phố,

nơi có nhiều biệt thự do công an quản lý. Tôi đến một biệt thự rộng lớn, anh Thọ bảo bảo vệ cán bộ nhân viên tản ra các biệt thự xung quanh, anh dắt tôi lên lầu, chỉ hai người ngồi bàn ngang nhau, anh có sổ và cầm viết ghi. Anh nói: “Tôi cần hỏi anh một số câu, để có quyết định về anh: quê anh thuộc về đảngbộ nào?”. Tôi nói, khi Châu Văn Liêm, thườngvụ Xứ ủy, chuyển từ “Thanh niên Đồngchí Hội” sanglập “An Nam Cộng sản Đảng”, có đến công tác ở xã tôi. Anh Nhung ở Vĩnh Long làm thầy giáo ở Ô Môn, đã được Châu Văn Liêm kết nạp vào Đảng một lượt với Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp. Cùng lúc thành lập chi bộ Cờ Đỏ. Ngày đầu, đảng bộ quê tôi thuộc về đảng bộ Châu Văn Liêm. Trả lời xong câu hỏi này, thấy anh Sáu Thọ trầm ngâm. Lê Đức Thọ hỏi tiếp: “Anh có quen biết Trần Văn Giàu không?”. Tôi nói: “Lúc nhỏ đọc báo nói về vụ Des Champs, Pháp đưa hơn năm mươi người cộngsản bị bắt ra tòa, có viết nhữngcâu hỏi của tòa và trả lời của Trần Văn Giàu, tôi rất thích, như: Tòa hỏi: ‘Anh làm nghề gì?’; anh Giàu trả lời: ‘Tôi đã nói, tôi làm cách mạngchuyên nghiệp, còn làm nghề gì nữa’. Tòa hỏi: ‘Làm sao anh đi Nga được?’. Anh Giàu trả lời: ‘Tôi có ý chí làm cách mạnglà tôi đi được’. Sau này gặp anh Giàu tôi thuật lại, anh Giàu cười nói: ‘Trước tòa tôi khai dóc chứ từ Pháp đi Liên Xô có gì là khó”. Sau khi xác minh thấy tôi “khôngcó quan hệ gì với Trần Văn Giàu”, ôngLê Đức Thọ nói: “Tôi sẽ giới thiệu cho Đại hội, bầu anh vào TrungươngĐảng, sau khi đắc cử sẽ rút anh đi khỏi thành phố”. Thế là ôngMười Thơ trở thành ủy viên Trungươngkhóa IV.

Đến Đại hội V, tháng 3-1982, tôi được Ban Chấp hành Trung ương Đảng giới thiệu về tỉnh Hậu Giang ứng cử đại biểu đại hội V. Tôi dự cuộc họp Trung ương khóa IV, lần cuối, đóng góp dự thảo báo cáo Đại hội V và danh sách đề cử trung ương ủy viên, trong danh sách đầu tiên có tên tôi. Chiều lại, anh Sáu Thọ kêu tôi đến gặp. Tôi nói với các đồng chí trong Tổ: “Chắc tôi phải rút ra khỏi danh sách đề cử đây”; rồi cười xách cặp đi. Đến nhà khách của Ban Bí thư, tôi ngồi trên ghế salon cá nhân ngangmặt với Sáu Thọ, anh biểu qua ngồi ghế salon với anh, rồi nói: “Tôi đối với anh sao anh cũngbiết, các đồngchí Bộ Chính trị găngvới anh lắm, trongcùngkhóa Ban Chấp hành Trungươngmâu thuẫn nhau, sẽ ảnh hưởnglãnh đạo chỉ đạo của Trungương. Tôi đề nghị anh vì sự nghiệp lớn của Đảng, anh hi sinh cho chúngtôi đưa tên anh ra khỏi danh sách giới thiệu vào TrungƯơngKhóa V. Sau Đại hội, côngtác của anh ra Bắc vô Nam thoải mái”. Tôi phát biểu: “Tôi tham gia cách mạnghồi mấy tuổi, luôn được điều đi nơi khó, và được giao trọng trách lúc khó. Tôi khôngnghĩ có thể sốngđến độc lập thốngnhứt. Giờ đươngcòn sốnglà lời quá sức rồi, có gì khônghi sinh được. Nếu thấy tôi ở Trungươnglàm mất đoàn kết, trở ngại cho Trungươngphát huy vai trò, tôi sẵn sàng rút tên, các anh cứ bôi tên tôi khỏi danh sách đề cử vào Trung ương đi”. Nói xong, tôi đứng dậy chào và về tổ họp. Đến khi họp Trung ương, danh sách giới thiệu ra ứng cử không có tên tôi. Mười Kỷ đi gặp Lê Duẩn hỏi về chuyện bôi tên Mười Thơ trongdanh sách đề cử vào Trungương, ôngBa Duẩn nói: “Tôi khôngtán thành bôi tên Hai Văn, Mười Thơ, Năm Vận, Mười Kỷ”. Hôm khai mạc Đại hội Đảnglần V, trên đườngvào hội trường, tôi gặp Mai Chí Thọ, anh ôm tôi rất tha thiết nói: “Trườngđồ tri mã lực, cửu nhựt kiến nhân tâm” (Đườngdài mới biết ngựa hay/ Lâu ngày lòngngười mới tỏ). Giờ giải lao, anh Đinh Đức Thiện khều tôi ra sân nói: “Mầy cho tao kêu mầy bằngmầy, vì tao lớn hơn mầy nhiều tuổi. Tao đi hết các tỉnh miền Tây, nếu mầy như họ nói, khôngthể có miền Tây anh hùngnhư vậy. Tao nói với ôngSáu Thọ, giải quyết cán bộ như thế, sau nầy họ sẽ đào mồ, cuốc mả cha mẹ mình lên”. Tôi nắm chặt hai tay anh Thiện nói: “Tôi nhận anh là anh tôi”. Cũngtrongthời gian họp, anh Hai Văn điện thoại kêu tôi đến nơi ở đoàn đại biểu tỉnh Cửu Longgục đầu xuốngbàn khóc, nước mắt chảy ướt mặt bàn. Sau Đại hội anh Nguyễn Văn Linh gặp tôi nói: Tôi có hỏi anh Sáu Thọ về việc bôi tên anh trongdanh sách đề cử vào Trungương, anh Sáu Thọ trả lời: “Tôi nói với nó, nó trả lời với tôi khôngđầy ba phút, đứngdậy đi, nếu nó năn nỉ tôi, tôi đã cho ở lại”. Tôi nói với anh Sáu Thọ: “Người cộngsản chân chính khôngbao giờ năn nỉ đâu”. Rồi anh Linh lại nói: “Tôi làm sao đấu tranh cho lẽ phải được, anh thấy hoàn cảnh tôi không, trongĐại hội nầy người ta vận độngkhôngbỏ thăm cho tôi, kết quả tôi đạt được số thăm đắc cử là may lắm”.

553 Lê Đức Thọ Người Cộngsản Kiên cường¼, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2011, trang69.

554 Theo ôngNguyễn Đức Tâm, khi chưa thuyết phục được Bộ Chính trị rằngai sẽ làm tổngbí thư, ôngTâm đã hỏi Lê Đức Thọ: “Tình hình khó khăn quá, anh nên nhận chức tổngbí thư đi, dễ thốngnhất

hơn?”. Lê Đức Thọ nói: “Mình đã nhiều tuổi, sức khỏe cũngkém, để đồngchí khác làm tốt hơn”(Bài viết của Nguyễn Đức Tâm do ôngNguyễn Đình Hươngcungcấp).

555 Thư ký của ôngTrườngChinh, ôngTrần Nhâm nói, TrườngChinh đã chịu áp lực, kể cả đe dọa, để buộc phải rút lui, nhưngôngNguyễn Khánh thì cho rằngkhôngcó sự đe dọa.

556 Bài phát biểu, còn được diễn đọc lại tại Đại hội Công khai vào ngày 18-12-1986, viết: “Chúng ta sắp bầu các ủy viên Ban Chấp hành Trung ương mới¼ Trong danh sách đề cử vào Ban Chấp hành

Trung ương khóa VI, thể theo đề nghị của đồng chí Trường Chinh, đồng chí Phạm Văn Đồng và đồng chí Lê Đức Thọ, Đoàn Chủ tịch Đại hội nhất trí tôn trọng quyền không ứng cử của ba đồng chí vì tuổi cao, sức đã yếu. Cử chỉ cao đẹp của ba đồng chí làm nổi bật truyền thống quý báu của dân tộc ta, của Đảng ta là: Thế hệ trước ân cần dìu dắt thế hệ sau và thế hệ sau kế tục trung thành sự nghiệp của thế hệ trước”. Sau khi “longtrọngtruyên dương” cả “ba đồngchí”, ôngPhạm Hùngđề nghị “Đại hội trao trách nhiệm cao cả” làm cố vấn cho cả ba bậc côngthần của Đảng.

557 Lê Đức Thọ Người Cộngsản Kiên cường¼, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2011, trang70. 558 Đại TướngLê Đức Anh, Nhà Xuất bản Quân Đội Nhân Dân, 2005. 559 Phạm Văn Trà, 2009, trang326-327. 560 Phạm Văn Trà, 2009, trang327-328. 561 Mai Xuân Tần, 2005, trang176. 562 Mai Xuân Tần, 2005, trang176. 563 Sđd, trang177.

564 Theo điệu bài hát Anh Ở Đầu SôngEm Cuối Sông, Phan Huỳnh Điểu. 565 Văn Lê, thơ.

566 Mìn zip và K58 thường không làm chết người. Mìn zip thì cắt đứt gót chân của những người đạp phải nó. Mìn K58 thì bật lên và nổ ở độ cao khoảng 80cm, sức sát thương đủ cắt đứt hai chân của

người lính dẫm lên nó và còn có khả năngsát thươngcả người đi phía sau, phía trước.

567 Điều tra của Ben Kiernan trong cuốn The Pol Pot Regime cho rằng: 1,67 triệu người, tương đương với 21% dân số Campuchia lúc ấy (7,89 triệu người) đã bị chết dưới bàn tay Khmer Đỏ; 100% người Việt, với mười nghìn sốngtrongcác đô thị và mười nghìn người khác sốngở các vùngnôngthôn, đều bị Khmer Đỏ giết sạch. Tuy, được hậu thuẫn bởi Bắc Kinh, nhưngchế độ Khmer Đỏ cũngkhôngtha mạngcho người Hoa. Khoảng50% người Hoa sốngở Campuchia, tươngđươngvới 215 nghìn người đã phải chết dưới bàn tay Pol Pot.

568 Đại sứ Việt Nam tại Campuchia giai đoạn 1979-1991. 569 Ngô Điền, 1992, trang63. 570 Ngô Điền, 1992, trang63. 571 Sđd, trang60.

572 Ngô Điền, 1992, tr 60.

573 Hun Sen sinh năm 1952 (Năm sinh trong lý lịch là 1951) quê ở huyện Stưng Troong, Kongpong Cham. Khi còn học phổ thông, Hun Sen có tham gia phong trào học sinh, bị khủng bố, lánh về Kratie

buôn hàng tiếp tế cho Quân Giải phóng miền Nam. Khi Lonnol đảo chính, Hun Sen chạy theo bộ đội Việt Nam và sau đó tham gia một đơn vị vũ trang Campuchia do bộ đội Việt Nam huấn luyện. Năm 1972, Hun Sen đã lên đến tiểu đoàn trưởng. Năm 1975, khi tham gia “giải phóng Kompong Cham”, Hun Sen bị thương nặng và hỏng mắt trái. Thời Pol Pot, Hun Sen là trung đoàn phó, tham mưu trưởng Trung đoàn Vùng 21. Tháng 6-1977, trung đoàn của Hun Sen được lệnh chuẩn bị tác chiến, trinh sát về báo, mục tiêu được giao là đồn biên phòng Hoa Lư của Việt Nam. Sau khi một số cán bộ trung đoàn được gọi về quân khu học tập khôngthấy quay trở lại, Hun Sen cùngvới một số cán bộ tâm phúc khác chạy thoát sangViệt Nam. Hun Sen đã được hai cán bộ Việt Nam tiếp đón và giúp đỡ trong thời kỳ đầu, ông Tám Quang và

Ba Cung, đánh giá rất cao. Sau một số lớp huấn luyện đầu tiên, Hun Sen đã viết nhữngkiến nghị có tầm chiến lược, được nói là, đã làm cho các cán bộ Việt Nam kinh ngạc. Khi trở thành bộ trưởng, biết mình bắt

đầu từ số không, Hun Sen, với tư chất thông minh, đã nỗ lực hết mình để học tập. Theo ông Ngô Điền: “Bộ Ngoại giao Việt Nam nhanh chóng soạn một giáo trình sơ đẳng về ngoại giao, cử cán bộ sang giúp tôi mở lớp đào tạo cấp tốc. Hun Sen học trước, học riêngvà học rất chăm, sau đó tự mình lên bục giảnglại bài cho các cán bộ Campuchia khác”. Cách làm này vừa giúp Hun Sen nắm bài chắc hơn vừa giúp ông kiến tạo uy tín tronghàngngũ cán bộ Campuchia. Theo ôngNgô Điền, khác với Pen Sovan, muốn tỏ ra tự mình làm được, khôngchịu tranh thủ sự giúp đỡ của chuyên gia, anh Hun Sen lúc đầu luôn khai thác chuyên gia, học rồi hỏi. Nhưng, nhữngviệc như chọn cán bộ, giải quyết các mối quan hệ nội bộ thì Hun Sen lại thườngtự làm.

574 Ngô Điền, 1992, trang65. 575 Sđd, trang76.

576 Pen Sovan bị đưa trở lại Hà Nội giam giữ cho tới ngày 25-1-1992.

577 Theo TướngLê ĐứcAnh: “Trở về Hà Nội, Bộ Chính trị họp bàn xét vụ này. Lúc đó, tôi nhớ anh Tô (Phạm Văn Đồng) đã phê phán rất gay gắt và đề nghị một mức kỷ luật rất nặngđối với toàn bộ cán

bộ chủ chốt của Bộ Tư lệnh 479 và 719 có liên quan đến vụ việc. Tôi nghĩ, lúc đó bất cứ ai đứngvào cươngvị và nhiệm vụ của tôi cũngcảm thấy rơi vào trạngthái khó xử, vì nếu tình hình chỉ thuần túy là anh em tự độnglàm, sai đến đâu kiểm điểm kỷ luật đến đó thì khôngkhó. Nhưngđằngnày lại có chuyện đồngchí Hồ QuangHóa có ra Hà Nội báo cáo cấp trên. Vậy thì mấy ông’cấp trên’ này trách nhiệm đến đâu phải do Bộ Chính trị định đoạt. Bởi vậy, tôi đề nghị với Bộ Chính trị là giao cho tôi xử lý thì tôi chỉ xin xử lý những việc cụ thể và những con người cụ thể của Bộ tư lệnh 719 và 479 có liên quan thôi. Bộ Chính trị chấp nhận. Tôi cũngđề xuất Bộ Chính trị nên cử một đồngchí có cươngvị cao, thay mặt Đảngta sangxin lỗi Đảngbạn, Bộ Chính trị nhất trí cử anh Chu Huy Mân” (Đại tướngLê ĐứcAnh, Nhà Xuất bản Quân Đội Nhân Dân, 2005, tr 186-187). Theo ôngLê Đức Anh: “Việc đầu tiên, tôi điện sangngừngtất cả các cuộc bắt bớ và thả tất cả nhữngngười đã bắt. Tôi vào Thành phố Hồ Chí Minh, sangCamphuchia, yêu cầu các đồngchí có trách nhiệm, khôngchỉ của Mặt trận 479 mà cả các mặt trận khác lên báo cáo tình hình. Tôi nghe rất kỹ, hỏi rất kỹ và đi kiểm tra thực tế thì thấy rằngcác đồngchí khônghề có ác ý hay thủ đoạn gì ở đây, chẳngqua chỉ là do ấu trĩ và nôn nóngnên dẫn đến sai lầm¼ Khôngkỷ luật thì khôngđược nhưngkỷ luật nặngquá cũngkhôngnên. Cuối cùngchỉ kỷ luật hai người, mỗi người hạ một sao cho về nước” (Đại Tướng Lê ĐứcAnh, trang 188). Hai nhân vật mà ông Lê ĐứcAnh đề cập là Thiếu tướng Hồ Quang Hóa và Thiếu tướng Tư Thanh, tư lệnh Mặt trận 479, cả hai bị giáng cấp xuống đại tá. Ông Hồ Quang Hóa còn bị đưa ra khỏi Ban Chấp hành Trungương, nơi ôngchỉ vừa mới được bầu vào hồi tháng3-1982.

578 Tháng10-1985, TổngBí thư Lê Duẩn tới Phnom Penh dự Đại hội lần thứ VĐảngNhân dân Cách mạngCampuchia. Theo ôngNgô Điền: “Anh Lê Duẩn lúc đó đã bảy mươi tám tuổi, ăn uốngphải theo chế độ cẩn thận. Anh HengSamrin định đến ăn tối với đoàn nhưngdo buổi tối anh Duẩn chỉ ăn nhẹ trongphòngriêngnên anh thu xếp ăn trưa cùngđoàn ở nhà khách Chamcar Mon. Suốt bữa ăn, anh Ba Duẩn nói say sưa về một số đề tài mà anh thườngnhắc đi nhắc lại: làm chủ tập thể, xây dựng400 pháo đài cấp huyện¼Anh HengSamrin khôngnói chen vào được bao nhiêu, chủ yếu ngồi nghe. Anh Ba Duẩn ăn ít, xong phần mình, anh nói: ‘Thôi nhé, ta đi nghỉ’, rồi kéo ghế đứng dậy đi về buồng mình ở ngay sau chỗ anh ngồi. Anh Heng Samrin đành thôi ăn, đứng dậy¼ Chắc anh Lê Duẩn không nghĩ ngợi gì, cho là cách xử sự của mình là bình thường. Mới hay tư tưởngnước lớn của ta đối với bạn đã ăn sâu và trở thành tự nhiên đến vậy” (Ngô Điền, 1992, trang86).

579 Trần QuangCơ, 2003, trang(?).

580 Tháng 8-1980, chiến sự xảy ra ác liệt ở điểm cao 1992, thuộc Sín Mần. Tháng 5-1981 Trung Quốc lại tiến đánh các cao điểm 1800A-1800B, thuộc Lao Chải, Hà Tuyên. Cũng tháng 5-1981, trên tuyến

ĐôngBắc, TrungQuốc tiến đánh bình độ 400, thuộc Cao Lộc, cao điểm 820, 630, thuộc Thất Khê, LạngSơn. Tháng2-1982 TrungQuốc đánh vào ĐồngVăn, Mèo Vạc, tháng4-1983, đánh MườngKhương¼

581 Ngày 26-3-1984, khi Quân Tình nguyện Việt Nam mở đợt tấn cônglớn, phá vỡ các căn cứ của Khmer Đỏ tại biên giới Thái Lan, TrungQuốc liền điều quân và trongsuốt hơn ba tuần lễ – từ ngày 2-4 đến 27-4-1984 – pháo kích cấp tập vào 205 mục tiêu ở hai mươi khu vực thuộc sáu tỉnh biên giới Hà Tuyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn, Lai Châu. Có ngày, Trung Quốc bắn tới hơn 6.000 viên đạn pháo, có nơi phải chịu từ 1.000-3.000 viên đạn mỗi ngày. Nơi xa nhất bị bắn phá là thị xã Hà Giang, cách biên giới 18km. Trong các ngày từ 28-4 đến 30-4-1984, Trung Quốc bắn 12.000 quả đạn pháo vào sáu điểm tựa của Việt Nam để chi viện cho bộ binh tấn công đánh chiếm hàng loạt điểm cao như 226, 233, 772, 1509, bình độ 300-400. Ngày 15-5-1984, Trung Quốc dùng một trung đoàn tăng cường đánh xuốngphía ĐôngsôngLô, ngay trongngày chiếm được các điểm cao 1030, Si Cà Lá, 1250.

582 Trên biên giới Vị Xuyên-Yên Minh, chiến sự kéo dài từ tháng4-1984 cho đến tháng4-1989. Nhữngđiểm cao như 1545, 1509, 1030 ở Vị Xuyên hay 1250, Núi Bạc ở Yên Minh, Hà Giangđã trở thành nhữngđịa danh máu lửa. Trên nhữngcao điểm chủ yếu được đánh số ấy, hàngngàn người lính Việt Nam đã ngã xuốngđể giành giật từngtấc đất với quân TrungQuốc.

583 Theo Ezra F. Vogel (2011): Hai tuần sau khi rút quân khỏi Việt Nam, Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Hoa đã gặp Đại sứ Liên Xô tại Bắc Kinh, đưa ra danh sách những vấn đề hai bên cần thảo luận để đi đến bình thườnghóa quan hệ. Từ tháng4 đến tháng10-1979, đã có 5 cuộc gặp ở cấp thứ trưởnggiữa Liên Xô và TrungQuốc. Cho dù mục tiêu ép TrungQuốc rút quân khỏi vùngNgoại Môngvà thôi trợ viện trợ cho quân đội Việt Nam ở Campuchia không thành công nhưng Đặng Tiểu Bình đã dẹp được mối đe dọa quân sự từ Liên Xô(trang 536). Ba ngày sau khi rút quân, 19-3-1979, khi họp với Ủy ban quân sự đặc trách khoa học và công nghệ, Đặng nhận định rằng: “Ít nhất trong 10 năm tới sẽ không có chiến tranh quy mô trên thế giới. Chúng ta không cần phải vội như vậy. Quân số quá đông. Chúng ta phải giảm xuống”. Chi phí quốc phòngcủa TrungQuốc giảm từ 4,6% GDP năm 1979 xuốngcòn 1,4% năm 1991. Trongthập niên 1980s, lượngvũ khí nhập ngoại của TrungQuốc chỉ bằng1/6 của Việt Nam (trang540-541). Quân số TrungQuốc giảm từ 6,1 triệu năm 1975 xuốngcòn: 5,2 triệu năm 1979; 4,2 triệu năm 1982; 3,2 triệu năm 1988 (trang526).

584 Chiến cuộc đã giữ chân đội quân bảo vệ biên giới phía Bắc Việt Nam lên tới 3 quân đoàn, 11 sư đoàn, 13 trungđoàn và 70 tiểu đoàn độc lập. 585 Ezra F. Vogel, 2011, trang534. 586 Trần QuangCơ, 2003, trang(?).

587 Khuất Biên Hoà, 2005, trang216. 588 Khuất Biên Hoà, 2005, trang216. 589 Trần QuangCơ, 2003, trang(?). 590 Sđd, trang(?).

591 Trần QuangCơ, trả lời phỏngvấn tác giả năm 2004.

592 Theo ông Trần Quang Cơ, ngày 2-12-1989, ông Nguyễn Cơ Thạch đã đến Phnom Penh nói với Bộ Chính trị Campuchia: Chiến tranh ở Campuchia là một cuộc nội chiến, Việt Nam không thể đưa quân

trở lại. Chỉ khi đạt được một giải pháp chính trị thì TrungQuốc mới thôi đứngsau lưngKhmer Đỏ, điều kiện cần thiết để lực lượngđe dọa Phnom Penh nhiều nhất này yếu đi.

593 Ngày 14-2-1988, TrungQuốc đưa 3 tàu chiến tới vùngbiển TrườngSa. Vào lúc 1:30 ngày 15-2-1988, tàu HQ 701 nhận được lệnh của Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam lao cắm vào đảo chìm Đá Lớn, lấy cả con tàu làm bia chủ quyền. Ngày 6-2-1988, tàu HQ 701 khi trên đường đưa hàng Tết ra đảo Nam Yết, đã được lệnh neo lại đảo Đá Lớn, chờ. Đầu tháng 3-1988, Trung Quốc huy động hai hạm đội xuống khu vực quần đảo TrườngSa. Để bảo vệ các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao, Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam đã điều đến đây các tàu của Lữ đoàn vận tải 125 mangtheo một số phân đội của Trungđoàn Côngbinh 83 và Lữ đoàn 146. Ngày 12-3-1988, tàu HQ-605 được lệnh từ đảo Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao trước 6 giờ sáng ngày 14-3. Sau 29 tiếng hành quân, tàu HQ-605 đến Len Đao lúc 5 giờ ngày 14-3, cắm cờ Việt Nam trên đảo. Chín giờ sángngày 13-3, tàu HQ-604 và tàu HQ-505 được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin. Trongtình thế tàu TrungQuốc áp sát uy hiếp, đêm 13-3, Hải quân Việt Nam đã bí mật đổ bộ, cắm cờ Việt Nam trên đảo Gạc Ma. Sáng14-3-1988, bốn tàu lớn của TrungQuốc tiến gần đảo Gạc Ma, dùngloa nói ra mật danh của tàu HQ 604 và yêu cầu tàu rời đảo. Một tổ 3 người trên tàu HQ 604 được Trung tá Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, Vùng 4 Hải quân Việt Nam, cử lên đảo Gạc Ma bảo vệ Quốc kỳ. Hải quân Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo, bắn chết Thiếu úy Trần Văn Phương và chiến sĩ Nguyễn Văn Tư, đâm trọng thương Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh. Từ hai chiến hạm của mình, Trung Quốc bắn pháo 100 mm làm chìm tàu HQ-604. Lữ đoàn phó Trần Đức Thông, Đại úy thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và nhiều sĩ quan, chiến sĩ đã hy sinh cùng tàu HQ-604. Sau khi thấy tàu HQ-604 bị bắn chìm, thuyền trưởng tàu HQ-505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo, tăng tốc cho tàu ủi bãi. Tàu HQ-505 đã kịp trườn được hai phần ba thân lên đảo Co Lin trước khi bị bắn cháy. Cùng ngày, tàu HQ-605 của Hải Quân Việt Nam cũng bị tàu Trung Quốc bắn tại đảo Len Đao, thủy thủ đoàn bơi thoát về đảo Sinh Tồn. Trước đó, khôngai nghĩ là TrungQuốc sẽ bắn. Các chiến sỹ Hải quân Việt Nam chỉ được trangbị súngAK nhưngkhi xuốngđảo chìm, họ để hết vũ khí ở khoanghàng. TrungQuốc đã bắn như vãi đạn vào nhữngngười lính đangđứnggiữa biển trongtay khôngtấc sắt. Trongtrận chiến khôngcân sức ấy, Hải quân Việt Nam chịu tổn thất: 3 tàu bị cháy; 64 sĩ quan, chiến sĩ hy sinh; 11 người bị thương. Nhưng, chủ quyền tại các đảo Cô Lin và Len Đao đã được bảo vệ. TrungQuốc chiếm đảo Gạc Ma.

594 Bộ trưởngNgoại giao Nhật 1991-1993; Bộ trưởngTài chánh 1980-1982. 595 TổngGiám đốc Côngty kinh doanh ngoài nước (OFTC). 596 Trần QuangCơ, 2003, trang(?).

597 Theo ôngTrần QuangCơ: Mãi tới ngày 19-6-1990, TướngLê Đức Anh mới nói trongcuộc họp Bộ Chính trị để đánh giá cuộc đàm phán giữa Trần QuangCơ với Từ Đôn Tín, ônggặp TrươngĐức Duy

để nói cụ thể thêm ba ý mà anh Linh nói với đại sứ TrungQuốc hôm 5-6-1990: gặp cấp cao hai nước; hai nước đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội; hai nhóm cộngsản Khmer nên nói chuyện với nhau. Cuộc gặp còn được viết trong cuốn tự truyện của ông Lê Đức Anh: “Ông (Lê Đức Anh) nói Cục trưởng Cục Đối ngoại quân sự Vũ Xuân Vinh đến mời Đại sứ Trương Đức Duy tới Nhà khách Bộ Quốc phòng ở số 28 Cửa Đông để ông mời cơm. Bữa cơm và cuộc gặp bí mật đó chỉ có hai người, vừa ăn vừa nói chuyện. Ông điểm lại quá trình Trung Quốc giúp Việt Nam¼ Đề nghị đồng chí Đại sứ báo cáo với lãnh đạo Trung Quốc. Ông mới nhậm chức nhưng cũng sẽ báo cáo với lãnh đạo của Việt Nam. Để lãnh đạo hai nước gặp nhau giải quyết việc này¼ Hôm đó Đại sứ Trương Đức Duy vừa ngạc nhiên vừa vui mừng ra mặt khi nghe ông nói nhữnglời như vậy. Trươngnói: Vậy thì tôi phải về báo cáo với lãnh đạo bên tôi” (Khuất Biên Hoà, 2005, trang220).

598 Trần QuangCơ, 2003, trang(?). 599 Sđd, trang(?).

600 Trần QuangCơ, 2003, trang(?).

601 Sau khi vấn đề Campuchia được giải quyết, ngày 5-11-1991, Tổng Bí thư Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt đã đi thăm chính thức Bắc Kinh. Quan hệ Việt – Trung trở lại bình

thường như hai quốc gia có quan hệ ngoại giao với nhau. Nhưng, Trung Quốc không còn là một “đồng minh” như đã từng trong thập niên 1950s, 1960s nữa. Sau Đại hội Đảng lần thứ VII, tháng 6-1991: ông Nguyễn Văn Linh thôi chức Tổng Bí thư, ông Đỗ Mười thay thế; ông Lê ĐứcAnh, được xếp vào hàng thứ 2, từ năm 1992 sẽ làm Chủ tịch Nước kiêm Bí thư phụ trách quốc phòng-an ninh – ngoại giao; ông Võ Văn Kiệt làm Chủ tịch Hội đồngBộ trưởng; nhà lý luận Đào Duy Tùnggiữ chức Thườngtrực Ban bí thư. ÔngNguyễn Cơ Thạch, người mà TrungQuốc đã đặt ra rìa trongcác cuộc tiếp xúc songphương, bị đưa ra khỏi Bộ Chính trị. Theo ông Trần Quang Cơ: “Sau Đại hội VII, mọi vấn đề quan trọng về đối ngoại của Nhà nước đều do Hồng Hà, Bí thư Trung ương, phụ trách đối ngoại – dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lê ĐứcAnh và tất nhiên được sự tán thưởngcủa TổngBí thư Đỗ Mười – quyết định. Nhữngphần côngviệc xưa nay vốn do Bộ Ngoại giao đảm nhiệm nay đều do HồngHà và Ban Đối ngoại chủ trì”. Theo ôngCơ: Ngày 5-8-1991, tại cuộc họp Hội đồng Bộ trưởng, Hồng Hà tuyên bố: “Từ nay trong quan hệ với Trung Quốc các ngành cứ tập trung ở chỗ anh Trương Đức Duy (Đại sứ Trung Quốc), không cần qua sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh”. Phó ban Đối ngoại TrungQuốc Chu Lươngtừngđề nghị: vì lý do kỹ thuật, quan hệ giữa hai Đảngxin làm qua TrươngĐức Duy. Đây khôngchỉ là bỏ qua nguyên tắc ngoại giao, theo ông Trần QuangCơ, mà còn là vấn đề “danh dự và quốc thể”.

602 Đến năm 1991, lực lượngKhu 203 có 19/62 ủy viên Trungương, 8/16 ủy viên Bộ Chính trị, trongkhi lực lượngtập kết chỉ có 5/62 ủy viên, 1/16 ủy viên Bộ Chính trị. Các chức vụ như tổngbí thư, thủ tướng, chủ tịch quốc hội, bí thư Thành ủy Phnom Penh, bộ trưởng Nội vụ, trưởng Ban Tổ chức Trung ương¼ đều là người của Khu 203. Phần còn lại trong chính trường Campuchia là lực lượng bắt đầu “tham gia cách mạng” sau ngày 7-1-1979: 24/62 ủy viên Trungương; 2/16 ủy viên Bộ Chính trị, 40% ghế bộ trưởng, 28,5% số bí thư tỉnh, thành, 57,1% số chủ tịch tỉnh.

603 Mel Sam Ol là người Khmer nhưnggia nhập quân đội Việt Nam từ năm 17 tuổi. Năm 1979, từ một nữ y tá, chị được đưa về Phnom Penh giữ chức cục phó Cục Cán bộ, Bộ Quốc phòng, rồi sau đó được đưa vào Ban Bí thư, giữ chức trưởngBan Tuyên huấn.

604 Ngày 10-12-1991, Bộ Chính trị ra Chỉ thị 05/CT-TW, xác định: “Quan hệ giữa Đảng ta với Đảng Nhân dân Campuchia theo những nguyên tắc tôn trọng độc lập tự chủ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và theo phương thức mới, chủ yếu là quan hệ nội bộ, tránh mọi sơ hở gây hậu quả xấu, không lợi cho quan hệ về mặt Nhà nước và việc thi hành Hiệp định Paris về Campuchia¼ Trước mắt, Đảngta chỉ quan hệ với ĐảngNhân dân Campuchia; sẽ xem xét tình hình các đảngvà lực lượngkhác để quyết định vấn đề quan hệ tùy từngtrườnghợp. Hai bên duy trì quan hệ giữa các đoàn thể quần chúng, các hội hữu nghị, tổ chức xã hội, tăngcườngtình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, phù hợp với Hiệp định Paris về Campuchia và tập quán quốc tế. Hai bên ngừngcác quan hệ kết nghĩa giữa các tỉnh thành phố của hai nước, quan hệ giữa các tỉnh, thành phố sẽ được giải quyết trongkhuôn khổ quan hệ giữa hai Nhà nước”.

605 Ngày 16-11-1991, trongcuộc họp báo đầu tiên tại HoàngCungkể từ khi trở về, khi trả lời câu hỏi của phóngviên Tuổi Trẻ về việc Việt Nam đưa quân tới Campuchia, Sihanouk nói: “Vấn đề có hai mặt (deux aspects). Tôi biết ơn Việt Nam đã cứu tôi, gia đình tôi và nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng. Mặt khác, tôi lên án việc thực dân hóa Campuchia của Việt Nam. Thà chết vì tay Pol Pot còn hơn là nước khôngcó độc lập”.

606 Trả lời phỏngvấn của tác giả năm 2004.

607 Ngày 11-6-1993, Khmer Đỏ tuyên bố khôngthừa nhận kết quả bầu cử và kêu gọi ám sát sáu nhân vật thuộc ĐảngNhân dân Campuchia. Trongkhi, ôngHun Sen tố cáo cuộc bầu cử do UNTAC tổ chức

là gian lận. Đảng Nhân dân Campuchia trong thế bị loại ra khỏi chính quyền đã dựng lên “phong trào ly khai đòi tự trị” trong nhiều vùng. Hai đại biểu của Đảng là Sinsong và Chakkrapong từ chối nhận chức đại biểu và đứng ra lãnh đạo phong trào này. Lo sợ đất nước bị chia cắt và nội chiến tái phát, Shihanouk đề nghị công thức chia quyền 45% + 45% + 10%. Funcinpec phải chấp nhận vì thắng lợi của họ là nhờ ảnh hưởngcủa ônghoàngSihanouk.

608 Một lần suýt bị các đồng chí của ông ép từ chức. Một lần bị đảo chính hụt bởi Bộ trưởng Nội vụ Sin Song có sự hậu thuẫn của Chea Sim (2-7-1994). Một lần bị đảo chính bởi Funcinpec va lực lượng Khmer Đỏ: cuộc đảo chính được thực hiện ngày 5-7-1997 khi Hun Sen đang ở Vũng Tàu và Ranaridth thì lánh ra nước ngoài; ngày 6-7-1997, một ngày sau khi Hun Sen trở về, ông đập tan cuộc đảo chính; bảy tướngcủa Funcinpec bị giết.



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s